TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Minh Hoàng;
Bà Trần Thị Mộng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 254/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 62/2024/QÐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1998; nơi cư trú: Số A, đường T, Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Lê Thanh H, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ I, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ 2 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 5 năm 2024, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà Nguyễn Thị N và ông Lê Thanh H tự nguyện tìm hiểu yêu thương và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương vào ngày 03/5/2019, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24.
Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống rất hạnh phúc với nhau. Tuy nhiên, vào khoảng giữa năm 2022 khi bà N sinh con thứ 2 thì vợ chồng tôi bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Ông H thường xuyên tụ tập bạn bè, ăn nhậu, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vã nhau. Ông H không còn quan tâm đến gia đình, vợ con. Cuối năm 2022 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Sau khi ly thân thì ông H không quan tâm đến cuộc sống của ba mẹ con. Khi biết bà N nộp đơn lên Toà án yêu cầu giải quyết ly hôn thì ông H cũng không quan tâm, không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông H.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có con 02 chung tên là Lê Nguyễn Nhã K, sinh ngày 17/02/2020 và Lê Nguyễn Phúc T, sinh ngày 14/3/2022. Hiện nay con chung đang sống cùng bà N. Bà N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa:
- Vị đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công bố tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Lê Thanh H hiện nay vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án đã thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với ông Lê Thanh H, nhưng ông Lê Thanh H vẫn vắng mặt lần thứ 2 không lý do. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có
đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị N và ông Lê Thanh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương vào ngày 03/5/2019, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24 nên hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Theo bà N trình bày thì sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được gần 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông H thường xuyên tụ tập bạn bè, ăn nhậu, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung với nhau nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn rồi cãi vã lẫn nhau. Mâu thuẫn trầm trọng không tự giải quyết được nên vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập nhưng ông H không đến Tòa án làm việc, tham gia các buổi hòa giải, tham gia phiên tòa để Tòa án hòa giải vợ chồng đoàn tụ, điều này thể hiện ông H không có thiện chí xây dựng gia đình hạnh phúc. Hơn nữa, từ khi ly thân, ông H không tìm cách hòa giải mâu thuẫn vợ chồng, điều đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông H không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc, bền vững, hiện nay mỗi người có cuộc sống riêng, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N về việc ly hôn với ông H.
Về con chung: Theo giấy khai sinh số 50 ngày 02/3/2020 và số 104 ngày 08/7/2022 của Ủy ban nhân dân phường T và phường P, thành phố T thì bà N và ông H có 02 con chung tên Lê Nguyễn Nhã K, sinh ngày 17/02/2020 và Lê Nguyễn Phúc T, sinh ngày 14/3/2022. Hiện nay con chung đang sống cùng bà N. Bà N có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt, nhu cầu thiết yếu, cần thiết giao con chung cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Từ những phân tích trên, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N về việc ly hôn với ông H. Giao con chung cho bà N trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N về việc không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Bà N phải chịu và đã nộp đủ.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 180; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Lê Thanh H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Lê Thanh H.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Nguyễn Nhã K, sinh ngày 17/02/2020 và Lê Nguyễn Phúc T, sinh ngày 14/3/2022 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị N về việc không yêu cầu ông Lê Thanh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về chi phí tố tụng: Chi phí thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Bà Nguyễn Thị N phải chịu và đã nộp đủ.
3. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0001646 ngày 13/6/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đậu Thị L |
Bản án số 254/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 254/2024/TLST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa Nguyễn Thị N và Lê Thanh H
