Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-8-2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia

đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh.

Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Nguyễn Lâm Tới.
  • - Ông Ngô Văn Cường.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Tâm - Thư ký tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên toà: Ông Đặng Phương Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thụ lý số: 99/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc “ Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 101/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Neàng Co Ry D, sinh năm 1991;

Nơi cư trú: Tổ E, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Chau Tanh Ð, sinh năm 1993;

Nơi cư trú: Tổ E, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

(Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt lần 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 09 tháng 4 năm 2024 và lời khai trong quá trình tố tụng chị Neàng C Ry Dal trình bày:

Chị và anh Chau Tanh Đ tự tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh An Giang ngày 04/4/2016. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 03/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, và bất đồng trong quan điểm sống và sống ly thân cho đến nay, trong khoảng thời gian sống ly thân, chị và anh Chau Tanh Đ có gặp nhau nói chuyện hàn gắn nhưng không thành. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Chau Tanh Đ.

Về con chung: Chị và anh Chau Tanh Đ không có con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình tố tụng cũng như trong biên bản lấy lời khai ngày 10/4/2024 anh Chau Tanh Đ trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Neàng C Ry Dal tự tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 2016 và có đăng ký kết. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 03/2023 thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay, trong khoảng thời gian sống ly thân, anh và chị D có gặp nhau nói chuyện hàn gắn nhưng không thành. Nay chị D yêu cầu ly hôn với anh, anh đồng ý ly hôn với chị D.

Về con chung: Anh và chị N1 không có con chung.

Về tài sản chung: Trong ngày cưới cha mẹ có cho vợ chồng 15 chỉ vàng 24Kra. Hiện tại số vàng này do chị Neàng C Ry Dal đang quản lý, khi ly hôn tôi yêu cầu chia đôi số vàng trên.

- Về nợ chung: Không có.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

  • - Thẩm phán: Chấp hành đúng các qui định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Hội đồng xét xử: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  • - Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • + Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho chị N1 được ly hôn với anh Chau Tanh Đ.
  • + Về con chung: Chị Neàng Co Ry D và anh Chau Tanh Đ xác định là không có nên không xem xét.
  • + Về tài sản chung: Anh Chau Tanh Đ cho rằng anh và chị Neàng C Ry Dal có 15 chỉ vàng 24kara là tài sản chung được cha mẹ cho trong ngày cưới, hiện chị D đang quản lý, khi ly hôn, anh yêu cầu nhận ½ tài sản. Tòa án có thông báo số: 221/TB- TA ngày 16/5/2024 tuy nhiên theo thông báo yêu cầu anh Đ làm đơn yêu cầu để Tòa án xem xét thụ lý yêu cầu phản tố đối với tài sản nêu trên, tuy nhiên anh Đ không thực hiện do đó không đề nghị xem xét.
  • + Nợ chung: Chị Neàng Co Ry D và anh Chau Tanh Đ xác nhận là không có nên không xem xét.
  • + Về án phí: Chị D khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chau T là bị đơn, thường trú: Tổ E, ấp A, xã A, thị xã T, An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung: Chị Neàng Co Ry D cho rằng khoảng năm 2016 chị và anh Chau Tanh Đ được hai gia đình tổ chức lễ cưới, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, An Giang; theo giấy chứng nhận kết hôn số: 34 ngày 04/4/2016. Tại thời điểm kết hôn chị D và anh Đ đã đủ độ tuổi và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Theo chị D cho rằng cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, khoảng tháng 3 năm 2023 thì chị và anh Đ phát sinh mâu thuẫn và bất đồng trong quan điểm sống và sống ly thân cho đến nay. Trong quá trình giải quyết, hòa giải, công bố chứng cứ Tòa án cũng đã phân tích hậu quả của việc ly hôn, tuy nhiên chị D cương quyết giữ nguyên yêu cầu là ly hôn với anh Đ, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân thì cũng không đem lại hạnh phúc. Đồng thời Đ xác nhận giữ anh và chị D không còn tình cảm không thể chung sống và hàn gắn, anh đồng ý ly hôn với chị D nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D được ly hôn với anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị Neàng Co Ry D và anh Chau Tanh Đ xác nhận là không có con chung nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Trong quá trình tố tụng công bố chứng cứ hòa giải anh Chau Tanh Đ cho rằng giữa anh và chị Neàng C Ry Dal có 15 chỉ vàng 24 kara là vàng cưới hiện tại chị D đang quản lý. Anh yêu cầu nhận ½ tài sản, chị Neàng C Ry Dal thì cho rằng số vàng đó đã không còn, vì đã chi trả cho tiền tổ chức lễ cưới hết 10 chỉ vàng 24kara, phần còn lại đã bán ra 02 chỉ vàng để trả nợ cho anh Đ, còn lại 03 chỉ vàng đã bán tiêu xài trong gia đình lúc anh Đ thất nghiệp, hiện tại số vàng đó không còn

Ngày 16/5/2024 Tòa án có ra thông báo số: 221/TB-TA về việc yêu cầu anh Chau Tanh Đ là đơn yêu cầu, đây là thuộc trường hợp yêu cầu phản tố chia tài sản chung, tuy nhiên anh Chau Tanh Đ không thực hiện do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp danh quyền khởi kiện cho anh Chau Tanh Đ khởi kiện vụ án dân sự khác chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Nợ chung: Chị N Cô Ry D và anh Chau Tanh Đ xác nhận là không có nên không xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị D khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Neàng C Ry Dal đối với anh Chau Tanh Đ.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị N1 được ly hôn với anh Chau Tanh Đ
  2. Về án phí: Chị D chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0010823 ngày 09/4/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger