|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày 16/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trung
Bà Phạm Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thái Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 16/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 16/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 05/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST ngày 19/6/224 đối với các bị cáo:
1. Vũ Thị H (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 09/11/1980 tại Hòa Bình. Nơi cư trú: Tổ A, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Hữu X, sinh năm 1951 và Bùi Thị T, sinh năm 1952; Gia đình có 03 (ba) anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có chồng là Nguyễn Anh S, sinh năm 1971; Có 02 con: con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2018;
Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2023 đến ngày 27/10/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh từ ngày 27/10/2023; từ ngày 16/5/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Thị T1 (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày: 30/10/1975 tại Hòa Bình; Nơi cư trú: Tổ F, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn  (đã chết) và bà Đinh Thị R, sinh năm 1954; Gia đình bị cáo có bốn chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có
chồng là Hà Văn T2, sinh năm 1971; Có 02 (hai) con: Con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2003.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Không có.
Bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2023 đến ngày 27/10/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh từ ngày 27/10/2023 cho đến ngày 15/5/2024; từ ngày 16/5/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Thị K (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 31/01/1972 tại Hòa Bình; Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng P, sinh năm 1943 và bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1945; Gia đình bị cáo có 04 (bốn) anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Có chồng là Phạm Xuân K2, sinh năm 1973; Có 02 (hai) con: Con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/10/2023 đến ngày 15/10/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/10/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Thị H1 (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 10/01/1969 tại Hòa Bình; Nơi cư trú: Tổ A, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1928; Gia đình bị cáo có 05 (năm) anh chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Có chồng là Trịnh Ngọc Â1, sinh năm 1961; có 01 (một) con sinh năm 1993.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Không có.
Bị cáo bị bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Đỗ Văn K3, sinh năm 1998; (vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt)
- Nơi ĐKHKTT: xóm N, xã D, huyện C, tỉnh Hòa Bình;
- Chỗ ở hiện nay: tổ C, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
- - Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2002; (vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt).
- Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Thị H khai nhận làm thư ký ghi lô, đề cho một người phụ nữ có tên là H (không rõ họ, năm sinh), trú tại tổ A, phường T, thành phố H. Tuy nhiên, do là ngày đầu nhận ghi lô, đề từ người chủ đề tên H nên Vũ Thị H chưa kịp xác định địa chỉ, thông tin chi tiết của người tên H. Chỉ biết có thỏa thuận làm thư ký ghi lô đề và thống nhất với nhau thực hiện hành vi Tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán các số lô, số đề trái quy định Nhà nước sau đó tổng hợp bảng ghi đề và các bảng đề chuyển từ người khác cho H, vì tin tưởng H là khách hàng quen mua quần áo của Vũ Thị H. Vũ Thị H và người phụ nữ tên H có thỏa thuận: Đối với số đề người phụ nữ tên H nhận 70% số tiền thu về, Vũ Thị H nhận 30%; đối với số lô người phụ nữ tên H nhận là 21.500 đồng/điểm, với số lô xiên là 7.000đồng/điểm, còn H thuê ai ghi lô đề tự điều chỉnh mức hoa hồng thấp hơn với họ tùy ý. Tuy nhiên, qua xác minh tại tổ A, phường T, thành phố H không xác định được có người nào tên H làm việc thu gom số lô, đề như Vũ Thị H đã khai.
Do có mối quan hệ quen biết từ trước nên Lê Thị T1, sinh năm 1975, trú tại tổ F, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình đến gặp Vũ Thị H, sinh năm 1980, trú tại tổ A, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình đặt vấn đề làm thư ký ghi lô, đề và thống nhất với nhau thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán các số lô, số đề trái quy định Nhà nước sau đó tổng hợp bảng và chuyển bảng cho Vũ Thị H nhằm mục đích thu lời bất chính.
Cũng do quen biết từ trước, nên Vũ Thị H còn tổ chức cho Nguyễn Thị K, sinh năm 1972, trú tại tổ A, phường T, thành phố H và Nguyễn Thị H1, sinh năm 1969, trú tại tổ A, phường P, thành phố H đánh bạc qua hình thức mua bán số lô, số đề trái quy định Nhà nước nhằm mục đích thu lời bất chính
Vũ Thị H thoả thuận với T1, K, H1 và khách hàng như sau: Đối với các số đề hai số H nhận 73% số tiền thu được; T1, K, H1 được chiết khấu 27%, (T1 khuyến mại cho khách 20% số tiền và hưởng 07% số tiền còn lại). Đối với lô 02 số H nhận 21.800 đồng/ 1 điểm (T1 bán cho khách giá 22.500 đồng/ 1 điểm, hưởng lời 700 đồng/ 1 điểm). Đối với lô xiên H nhận 7.500 đồng/ 1 điểm (T1 bán cho khách giá 10.000 đồng/ 1 điểm, hưởng lời 2.500 đồng/ 1 điểm). H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG C9 PRO, màu vàng, số IMEI1: 357160081587033, số IMEI2: 357161081587031, lắp sim điện thoại số 0354.614.xxx, đăng nhập ứng dụng Zalo qua tài khoản “Khánh Phương” để nhận các số lô, số đề trái quy định Nhà nước từ T1, K, H1.
Căn cứ tính thắng, thua là bảng kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hàng ngày, sau đó H sẽ thanh toán tiền thắng, thua cho T1 (để trả cho khách) và cho K, H1 (bằng tiền mặt vào ngày hôm sau) khi trúng giải cụ thể như sau:
- Đối với đề 2 số (là hai số cuối hoặc hai số đầu của giải đặc biệt Xổ số kiến thiết miền B), nếu trúng giải sẽ được trả gấp 70 lần số tiền đánh;
- Đối với đề 3 số (là ba số cuối của giải đặc biệt Xổ số kiến thiết miền B), nếu trúng giải sẽ được trả gấp 400 lần số tiền đánh;
- Đối với lô 02 số (là hai số cuối từ bảy đến giải đặc biệt trong tổng số 27 giải của Xổ số kiến thiết miền B), nếu trúng thưởng sẽ được trả 1 điểm = 80.000 đồng;
- Đối với lô xiên 2 (là hai cặp số, mỗi số là hai số cuối từ giải bảy đến giải đặc biệt trong tổng số 27 giải của Xổ số kiến thiết miền B), nếu trúng thưởng sẽ được trả 1 điểm = 100.000 đồng;
- Đối với lô xiên 3 (là ba cặp số, mỗi số là hai số cuối từ giải bảy đến giải đặc biệt trong tổng số 27 giải của Xổ số kiến thiết miền B), nếu trúng thưởng sẽ được trả 1 điểm = 450.000 đồng;
- Đối với lô xiên 4 (là bốn cặp số, mỗi số là hai số cuối từ giải bảy đến giải đặc biệt trong tổng số 27 giải của Xổ số kiến thiết miền B), nếu trúng thưởng sẽ được trả 1 điểm = 1.000.000 đồng.
* Hành vi Tổ chức đánh bạc của Vũ Thị H và thư ký là Lê Thị T1 với các con bạc:
Lê Thị T1 làm đại lý bán lô tô, xổ số cho Công ty xổ số kiến thiết tỉnh H, hàng ngày ngoài bán lô tô, xổ số nộp cho Công ty X1 còn bán thêm các số lô, số đề trái quy định Nhà nước để nộp cho H nhằm hưởng lời bất chính.
Ngày 06/10/2023, Lê Thị Tân bày bàn bán các số lô, số đề cho khách vãng lai tại khu vực tổ F, phường H, thành phố H, trong những người mua có Đỗ Văn K3, sinh năm 1998, trú tại tổ C, phường H, thành phố H và Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2002, trú tại tổ A, phường T, thành phố H. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T1 tổng hợp các số lô, số đề bán được trong ngày vào một tờ giấy A4, sau đó sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đỏ, số IMEI1: 357838491065142, số IMEI2: 357838491088896 chụp ảnh, sau đó đăng nhập vào ứng dụng Zalo bằng tài khoản “lethitanhb” và gửi ảnh chụp bảng tổng hợp số lô, số đề đến tài khoản Zalo “K” của H gồm:
Số đề 68 giá 240.000 đồng; Số đề 01 giá 110.000 đồng; Các số đề 90, 07, 00, 12, 74, 82, 38, 13, 34 mỗi số 12.000 đồng = 108.000 đồng; Số đề 57 giá 76.000 đồng; Các số đề 81, 87 mỗi số 120.000 đồng = 240.000 đồng; Số đề 98 giá 30.000 đồng; Các số đề 05, 50 mỗi số 48.000 đồng = 96.000 đồng; Các số đề đầu 2 gồm 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29 mỗi số 24.000 đồng = 240.000 đồng; Các số đề 39, 93 mỗi số 24.000 đồng = 48.000 đồng; Các số đề 86, 75 mỗi số 30.000 đồng = 60.000 đồng; Các số đề 69,96 mỗi số 50.000 đồng = 100.000 đồng.
Các số đề 57, 75, 46 mỗi số giá 20.000 đồng = 60.000 đồng; Các số đề 64, 29 mỗi số giá 20.000 đồng = 40.000 đồng; Các số đề ba số 669, 696, 396, 369 mỗi số 10.000 đồng = 40.000 đồng; Số đề 92 giá 24.000 đồng; Các số đề 06, 16, 26 mỗi số 4.000 đồng = 24.000 đồng; Các số đề 47, 55, 30, 80, 27 và số đề 335 mỗi số 2.000 đồng = 12.000 đồng; Các số đề hệ 07 gồm 07, 70, 57, 75, 25, 52, 02, 20 mỗi số 100.000 đồng = 800.000 đồng; Các số đề đít 07 gồm 07, 17, 27, 37, 47, 57, 67, 77, 87, 97 mỗi số giá 100.000 đồng = 1.000.000 đồng; Các số đề 37, 73 và 537, 570, 573 mỗi số 200.000 đồng = 1.000.000 đồng; Các số đề 07, 57 mỗi số 12.000 đồng = 24.000 đồng; Các số đề 607, 657 mỗi số 12.000 đồng = 24.000 đồng; Số đề 34 giá 120.000 đồng.
Các số đề 557, 507 mỗi số 500.000 đồng = 1.000.000 đồng; Các số đề 42, 24, 29, 92, 79, 97 mỗi số 20.000 đồng = 120.000 đồng; Số đề 36 giá 120.000 đồng; Các số đề 78, 97, mỗi số 60.000 đồng = 120.000 đồng; Các số đề 38, 83, 33, 88
mỗi số 6.000 đồng = 24.000 đồng; Các số đề đầu giải 24, 42, 26, 62, 46, 64, 17, 71 mỗi số giá 12.000 đồng và số đề đầu giải 72 giá 40.000 đồng = 136.000 đồng;
Các số đề đầu giải hệ 12 gồm 12, 21, 17, 71, 76, 67, 26, 62 mỗi số 6.000 đồng = 48.000 đồng; Các số đề hệ 12 gồm 12, 21, 17, 71, 76, 67, 26, 62 mỗi số 6.000 đồng = 48.000 đồng; Các số đề 07, 70 mỗi số 12.000 đồng = 24.000 đồng; Số đề 57 giá 60.000 đồng; Số đề 14 giá 24.000 đồng; Số đề 64 giá 120.000 đồng; Các số đề đầu 1 gồm 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, các số đề đít 1 gồm 01, 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71, 81, 91 và các số đề đít 8 gồm 08, 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78, 88, 98 mỗi số giá 24.000 đồng = 720.000 đồng; Số đề 81 giá 8.000 đồng;
Số đề 43 giá 24.000 đồng; Số đề 79 giá 60.000 đồng; Các số đề 16, 61 mỗi số 60.000 đồng = 120.000 đồng; Các số đề 19, 91 mỗi số 60.000 đồng = 120.000 đồng; Các số đề 11, 41, 81 mỗi số 12.000 đồng = 36.000 đồng; Các số đề đít 1 gồm 01, 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71, 81, 91 mỗi số giá 3.000 đồng = 30.000 đồng; Số đề 01 giá 6.000 đồng; Số đề 00 giá 50.000 đồng; Số đề 01 giá 250.000 đồng; Các số đề đít 1 gồm 01, 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71, 81, 91 mỗi số giá 6.000 đồng = 60.000 đồng; Số đề 91 giá 12.000 đồng;
Các số đề 107, 607, 670, 607 mỗi số 22.000 đồng = 88.000 đồng; Các số đề 000, 001 mỗi số 10.000 đồng = 20.000 đồng; Các số đề 100, 101, 201, 301, 401, 501, 601, 701, 801, 901, 110 mỗi số 10.000 đồng = 110.000 đồng; Các số đề 36, 63, 18, 81 mỗi số 12.000 đồng = 48.000 đồng; Các số đề đầu giải 74, 47, 79, 97 và các số đề 74, 47, 79, 97 mỗi số 12.000 đồng = 96.000 đồng; Số đề 59 giá 24.000 đồng; Số đề 02 giá 24.000 đồng; Các số đề 17, 20, 21 mỗi số 12.000 đồng = 36.000 đồng; Số đề 98 giá 12.000 đồng; Các số đề 02, 20, 18, 81 mỗi số 6.000 đồng = 24.000 đồng;
Số lô xiên 2 gồm 63, 76 là 20 điểm = 200.000 đồng; Số lô xiên 4 gồm 33, 88, 83, 38 là 3 điểm = 30.000 đồng;
Các số lô 05, 50 mỗi số 50 điểm = 100 điểm, thành tiền = 2.180.000 đồng; Số lô 68 = 20 điểm, thành tiền là 436.000 đồng; Số lô 98 = 40 điểm, thành tiền là 872.000 đồng; Các số lô 01, 33 mỗi số 35 điểm = 70 điểm, thành tiền là 1.526.000 đồng; Số lô 33 = 5 điểm, thành tiền là 109.000 đồng; Các số lô 41, 14 mỗi số 50 điểm = 100 điểm, thành tiền là 2.180.000 đồng; Số lô 40 = 40 điểm, thành tiền là 872.000 đồng; Các số lô 13, 73 mỗi số 10 điểm = 20 điểm, thành tiền là 436.000 đồng; Số lô 36 = 30 điểm, thành tiền là 654.000 đồng; Số lô 35 = 135 điểm, thành tiền là 2.943.000 đồng; Các số lô đít 8 gồm 08, 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78, 88, 98 mỗi số 01 điểm = 10 điểm, thành tiền là 218.000 đồng; Số lô 28 = 15 điểm, thành tiền là 327.000 đồng; Số lô 89 = 15 điểm, thành tiền là 327.000 đồng; Các số lô 71, 81 mỗi số 10 điểm = 20 điểm, thành tiền là 436.000 đồng; Các số lô 41, 81 mỗi số 5 điểm = 10 điểm, thành tiền là 218.000 đồng; Số lô 83 = 20 điểm, thành tiền là 436.000 đồng; Các số lô 98, 89, 59, 95, 69, 96, 45, 54, 58, 24, 42, 01, 40, 08, 80 mỗi số 01 điểm = 15 điểm, thành tiền là 327.000 đồng; Các số lô 05, 50, 38, 83, 13 mỗi số 01 điểm = 05 điểm, thành tiền là 109.000 đồng; Số lô 14 = 5 điểm, thành tiền là 109.000 đồng;
Các số đề 81, 871 mỗi số 60.000 đồng = 120.000 đồng; Số đề 01 giá 110.000 đồng; Các số đề 17,71 mỗi số 60.000 đồng = 120.000 đồng; Các số đề hệ 03 gồm
03, 30, 08, 80, 58, 85, 35, 53 mỗi số 5.000 đồng = 40.000 đồng; Số đề 80 giá 4.000 đồng; Các số đề đầu 1 gồm 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19 mỗi số 2.000 đồng = 20.000 đồng; Các số đề đít 1 gồm 01, 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71, 81, 91 mỗi số 2.000 đồng = 20.000 đồng; Các số đề đầu 6 gồm 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69 mỗi số 2.000 đồng = 20.000 đồng; Các số đề đít 6 gồm 06, 16, 26, 36, 46, 56, 66, 76, 86, 96 mỗi số 2.000 đồng = 20.000 đồng; Các số đề đầu 5 gồm 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59 mỗi số 2.000 đồng = 20.000 đồng; Các số đề 50, 60 mỗi số 5.000 đồng = 10.000 đồng ; Các số đề hệ 03 gồm 03, 30, 08, 80, 58, 85, 35, 53 mỗi số 50.000 đồng = 400.000 đồng; Số đề 03 giá 40.000 đồng.
Tổng số tiền các số lô, số đề trái quy định Nhà nước Tân bán được sau đó chuyển cho H ngày 06/10/2023 là 24.215.000 đồng.
Đối chiếu với kết quả Xổ số kiến thiết miền B mở thưởng vào 18 giờ 15 phút ngày 06/10/2023, xác định các số lô, số đề trúng thưởng H nhận của T1 là:
Số đề 21 trúng thưởng: 24.000 đồng x 70 = 1.680.000 đồng; 6.000 đồng x 70 = 420.000 đồng; 24.000 đồng x 70 = 1.680.000 đồng; 3.000 đồng x 70 = 210.000 đồng; 6.000 đồng x 70 = 420.000 đồng; 12.000 đồng x 70 = 840.000 đồng; 2.000 đồng x 70 = 140.000 đồng;
Số lô 50: 50 điểm x 80.000 đồng = 4.000.000 đồng; Số lô 68: 20 điểm x 80.000 đồng = 1.600.000 đồng; Số lô 41: 50 điểm x 80.000 đồng = 4.000.000 đồng; Các số lô 01, 68 mỗi số trúng 01 điểm = 02 điểm x 80.000 đồng = 160.000 đồng; Số lô 41: 5 điểm x 80.000 đồng = 400.000 đồng; Số lô 83: 20 điểm x 80.000 đồng = 1.600.000 đồng; Các số lô 95, 24, 08 mỗi số 01 điểm = 03 điểm x 80.000 đồng = 240.000 đồng; Các số lô 50, 83 mỗi số trúng 01 điểm = 02 điểm x 80.000 đồng = 160.000 đồng.
Tổng số tiền trúng thưởng chủ đề phải trả cho T1 là 17.550.000 đồng.
Do hành vi Tổ chức đánh bạc của H, T1 bị phát hiện sau giờ mở thưởng nên xác định số tiền T1 phải chịu trách nhiệm hình sự là tổng số tiền đánh và số tiền trúng thưởng = 41.765.000 (bốn mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng.
Về thanh toán tiền: Toàn bộ tiền mua, bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng giữa Vũ Thị H, Lê Thị T1 chưa thanh toán.
Ngày 06/10/2023, Lê Thị T1, Vũ Thị H đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đầu thú về hành vi Tổ chức đánh bạc, đồng thời giao nộp các đồ vật, tài liệu liên quan.
* Hành vi Tổ chức đánh bạc giữa Vũ Thị H và hành vi đánh bạc Nguyễn Thị K:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/10/2023 tại tổ A, phường T, thành phố H, Nguyễn Thị K sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen sau đó vào ứng dụng Zalo, đăng nhập tài khoản “Nguyễn Khanh” rồi soạn các tin nhắn, nội dung là các số lô, số đề trái quy định Nhà nước mà K muốn mua rồi gửi đến tài khoản Zalo “Khánh Phương” của H để trực tiếp đánh bạc với H, cụ thể:
Các số đề: 84, 01, 90, 74, 07, 00, 12, 82, 38, 13 mỗi số 250.000 đồng = 2.500.000 đồng; Các số đề hệ 12 gồm 12, 21, 67, 76, 17, 71, 26, 62, hệ 13 gồm 18, 81, 13, 31, 68, 86, 36, 63, hệ 14 gồm 14, 41, 19, 91, 46, 64, 69, 96, hệ 40 gồm 04, 40, 09, 90, 95, 59, 45, 54, hệ 35 gồm 35, 53, 03, 30, 08, 80, 58, 85 mỗi số giá 60.000 đồng = 2.400.000 đồng;
Các số lô 00, 55, 18, 81, 57, 75, 33, 66, 89, 98 mỗi số 05 điểm = 50 điểm, thành tiền là 1.090.000 đồng;
Các số đề 00, 02, 01, 05, 07, 09, 10, 12, 15, 16, 17, 18, 21, 26, 31, 42, 45, 24, 46, 51, 54, 52, 57, 55, 58, 60, 62, 65, 70, 71, 76, 74, 75, 80, 82, 84, 90, 91, 92, 96 mỗi số 60.000 đồng = 2.400.000 đồng;
Các số đề 00, 01, 07, 05, 09, 08, 10, 12, 15, 16, 17, 18, 21, 26, 38, 42, 45, 46, 54, 51, 56, 55, 60, 62, 65, 68, 67, 69, 70, 71, 75, 76, 78, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 90, 91, 92, 96, 95 mỗi số 60.000 đồng = 2.640.000 đồng
Các số đề 14, 41, 15, 51, 16, 61, 06, 60, 07, 70, 05, 50, 55, 00, 89, 98, 48, 84, 09, 90, 67, 76, 12, 21 mỗi số 30.000 đồng = 720.000 đồng.
Số đề 57 là 20.000 đồng.
Tổng số tiền các số lô, số đề trái qua định Nhà nước H nhận của K ngày 06/10/2023 là 11.770.000 (Mười một triệu bảy trăm bảy mươi nghìn) đồng.
Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng vào 18 giờ 15 cùng ngày, xác định các số lô, số đề trúng thưởng H nhận của K là:
Số đề 21: 60.000 đồng x 70 = 4.200.000 đồng; 60.000đồng x 70 = 4.200.000 đồng; 60.000đồng x 70 = 4.200.000đồng; 30.000đồng x 70 = 2.100.000 đồng.
Tổng số tiền trúng thưởng chủ đề phải trả cho K là 14.700.000 (Mười bốn triệu bảy trăm nghìn) đồng.
Do hành vi Tổ chức đánh bạc của H, hành vi đánh bạc của K bị phát hiện sau giờ mở thưởng nên xác định số tiền K phải chịu trách nhiệm hình sự là tổng số tiền đánh và số tiền trúng thưởng = 26.470.000 (Hai mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi nghìn) đồng.
Ngày 07/10/2023, Nguyễn Thị K đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố H xin đầu thú và khai nhận về hành vi đánh bạc giữa K và Vũ Thị H vào ngày 06/10/2023.
Về thanh toán tiền: Toàn bộ tiền mua, bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng giữa Vũ Thị H, Nguyễn Thị K chưa thanh toán.
* Hành vi Tổ chức đánh bạc của Vũ Thị H và hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị H1 :
Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 06/10/2023, tại tổ A, phường P, thành phố H, Nguyễn Thị H1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, loại điện thoại đen trắng có phím bấm, lắp sim số +8462016839 và soạn tin nhắn với nội dung là các số lô, số đề trái quy định Nhà nước Hoa muốn mua gửi tới số điện thoại 0354.614.xxx của Vũ Thị H, cụ thể:
Các số đề 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99, 05, 50, 27, 72, 16, 61, 38, 83, 49, 94 mỗi số 20.000 đồng = 400.000 đồng; Các số đề 05, 50, 16, 61, 27, 72, 38, 83, 49, 94 mỗi số 20.000 đồng = 200.000 đồng; Các số đề 18, 81 mỗi số giá 600.000 đồng = 1.200.000 đồng; Các số đề đầu giải gồm 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99, 05, 50, 27, 72, 16, 61, 38, 83, 49, 94 mỗi số 20.000 đồng = 400.000 đồng; Các số đề đầu giải cồm 29, 38, 39, 3, 48, 49, 56, 57, 58, 59, 65, 66, 67, 68, 69, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 mỗi số 10.000 đồng = 360.000 đồng;
Các số lô 49, 94 mỗi số 15 điểm = 30 điểm, thành tiền là 654.000 đồng; Các số lô 27,72 mỗi số 05 điểm = 10 điểm, thành tiền là 218.000 đồng.
Tổng số tiền các số lô, số đề trái quy định Nhà nước H nhận của H1 ngày 06/10/2023 là 3.432.000 đồng.
Đối chiếu với kết quả xổ số miền B mở thưởng vào 18 giờ 15 phút cùng ngày, xác định các số lô, số đề trúng thưởng gồm:
Số lô 94: 15 điểm x 80.000 đồng = 1.200.000 đồng; Số lô 27: 05 điểm x 80.000 đồng = 400.000 đồng.
Tổng số tiền trúng thưởng của bị cáo H1 là 1.600.000 (Một triệu sáu trăm nghìn) đồng.
Do hành vi Tổ chức đánh bạc của H, hành vi đánh bạc H1 bị phát hiện sau giờ mở thưởng nên xác định số tiền phải chịu trách nhiệm hình sự là tổng số tiền đánh và số tiền trúng thưởng là 5.032.000 (Năm triệu không trăm ba mươi hai nghìn) đồng.
Ngày 24/10/2023, Nguyễn Thị H1 đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố H xin đầu thú và khai nhận về hành vi đánh bạc giữa H1 và Vũ Thị H vào ngày 06/10/2023.
Về thanh toán tiền: Toàn bộ tiền mua, bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng giữa Vũ Thị H, Nguyễn Thị H1 chưa thanh toán.
Như vậy tổng số tiền Vũ Thị H tổ chức đánh bạc với Lê Thị T1, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị H1 phải chịu trách nhiệm hình sự là 73.267.000 đồng (số tiền đánh là 39.417.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 32.250.000 đồng).
Về số tiền H thu lời bất chính: Do T1, K, H1 chưa thanh toán trên thực tế cho H và H không phải là chủ đề chi trả tiền trúng thưởng nên số tiền H hưởng lời bất chính từ hành vi tổ chức đánh bạc ngày 06/10/2023 là số tiền chênh lệch % thu được của T1, K, H1 với chủ đề tên H (có địa chỉ tại tổ A phường T hiện chưa xác định được) là 916.300 (Chín trăm mười sáu nghìn ba trăm) đồng. Số tiền này nằm trong tiền các bị cáo T1 thu gom; K, H1 đánh bạc chưa thanh toán cho H và sẽ bị tịch thu từ số tiền đánh bạc các bị cáo T1, K, H1 nợ H chưa thanh toán nên H không phải nộp.
Về số tiền T1 thu lời bất chính: Được xác định là số tiền phần trăm hoa hồng thực tế T1 được hưởng sau khi đã chiết khấu cho khách là 1.178.900 đồng. Tuy nhiên số tiền hưởng lời bất chính này nằm trong số tiền T1 thu được từ việc tổ chức đánh bạc nên số tiền T1 bị truy thu nằm trong số tiền đã thu gom số lô, số đề
chưa thanh toán cho H, là 24.687.500 (Hai mươi bốn triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm) đồng.
Về số tiền K và H1 đánh bạc chưa thanh toán cho H là số tiền thực hiện vào việc phạm tội, thu lời bất chính, cần tịch thu từ K và H1.
Đối với số tiền trả thưởng trách nhiệm thuộc chủ đề nhưng do Cơ quan điều tra nhưng chưa chứng minh được nên chưa được xem xét trong vụ án này.
Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, đơn xin đầu thú của bị cáo, lời khai của những người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và được xử lý như sau:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, loại màn hình cảm ứng, tình trạng đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, loại điện thoại đen trắng có phím bấm, tình trạng đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội của Nguyễn Thị K và Nguyễn Thị H1, quá trình điều tra chưa thu giữ được, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã ra Quyết định truy tìm vật chứng, khi tìm được sẽ xử lý theo quy định.
- 02 (hai) tờ tích-kê ghi số lô, số đề trái phép của Đỗ Văn K3 và Nguyễn Văn Đ với Lê Thị T1 thu giữ trong quá trình điều tra được chuyển theo hồ sơ vụ án.
- 02 (hai) tờ tích-kê ghi số lô, số đề trái phép và số tiền 190.000 đồng, 115.000 đồng của Đỗ Văn K3, Nguyễn Văn Đ với Trần Thị G, Nguyễn Thị P1 hiện đã được tách ra giải quyết trong vụ việc khác do đó không xét đến.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG C9 PRO, màu vàng, số IMEI1: 357160081587033, số IMEI2: 35716081587031, lắp sim điện thoại số 01 (một) sim V1, tình trạng đã qua sử dụng (thu giữ của Vũ Thị H) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đỏ, số IMEI1: 357838491065142, số IMEI2: 357838491088896, tình trạng đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Thị T1), được chuyển đến Chi cục THADS thành phố H để bảo quản trong quá trình giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo.
Về nhân thân và vai trò của các bị cáo: Bị cáo Vũ Thị H, là người giữ vai trò chính trực tiếp tổ chức đánh bạc với số tiền nhiều nhất trong các bị cáo là 73.267.000 (Bảy mươi ba triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn đồng đã bao gồm cả tiền trả thưởng); bị cáo T1 tổ chức đánh bạc với vai trò là thư ký ghi số lô, số đề số tiền ít hơn bị cáo H nên giữ vai trò đồng phạm, là người thực hành tích cực việc tổ chức đánh bạc với số tiền 26.470.000 đồng (Hai mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng đã bao gồm cả tiền trả thưởng) đã cấu thành tội tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Thị K đánh bạc với số tiền là 26.470.000 (Hai mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng đã bao gồm cả tiền trúng thưởng) và Nguyễn Thị H1 đánh bạc với số tiền là 5.032.000 (Năm triệu không trăm ba mươi hai
nghìn đồng đã bao gồm cả tiền trúng thưởng).Hành của bị cáo K và H1 đã cấu thành tội đánh bạc.
Các bị cáo đều có nhân thân tốt. Các bị cáo đều giữ vai trò là đồng phạm, thực hành tích cực. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào số tiền các bị cáo tham gia vào hành vi phạm tội và hưởng lợi bất chính để xem xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Vũ Thị H: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đến cơ quan điều tra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Thị T1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị H1: Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1; bị cáo đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị H, Lê Thị T1 phạm Tội tổ chức đánh bạc.
- Đối với bị cáo Vũ Thị H: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị H: 24 (hai mươi tư) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
- Đối với bị cáo Lê Thị T1: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T1 từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách;
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị H1 phạm tội đánh bạc;
- Đối với bị cáo Nguyễn Thị K: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt Nguyễn Thị H1 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tuyên tịch thu xung công: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG C9 PRO, màu vàng, số IMEI1: 357160081587033, số IMEI2: 35716081587031, bên trong lắp 01 (một) sim V1, tình trạng đã qua sử dụng (thu giữ của Vũ Thị H) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đỏ, số
- IMEI1: 357838491065142, số IMEI2: 357838491088896, tình trạng đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Thị T1). Các tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
- Truy thu xung công quỹ Nhà nước số tiền hưởng lời bất chính của các bị cáo, cụ thể:
- - Bị cáo Lê Thị T1 là 24.215.000 (Hai mươi bốn triệu hai trăm mươi lăm nghìn) đồng;
- - Bị cáo Nguyễn Thị K là 14.700.000 (Mười bốn triệu bảy trăm nghìn) đồng;
- - Bị cáo Nguyễn Thị H1 là 1.600.000 (Một triệu sáu trăm nghìn) đồng;
- Riêng bị cáo Vũ Thị H do chưa nhận thanh toán thực tế, số tiền hưởng lời nằm trong số tiền các bị cáo T1 tổ chức đánh bạc; K, H1 đánh bạc nên bị truy thu từ số tiền đánh bạc của các bị cáo trên.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, loại màn hình cảm ứng, tình trạng đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, loại điện thoại đen trắng có phím bấm, tình trạng đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội của Nguyễn Thị K và Nguyễn Thị H1, quá trình điều tra chưa thu giữ được, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã ra Quyết định truy tìm vật chứng, khi tìm được sẽ xử lý theo quy định.
- 02 (hai) tờ tích-kê ghi số lô, số đề trái phép của Đỗ Văn K3 và Nguyễn Văn Đ với Lê Thị T1 thu giữ trong quá trình điều tra đã được chuyển theo hồ sơ vụ án tiếp tục lưu hồ sơ.
- 02 (hai) tờ tích-kê ghi số lô, số đề trái phép và số tiền 190.000 đồng, 115.000 đồng của Đỗ Văn K3, Nguyễn Văn Đ với Trần Thị G, Nguyễn Thị P1 hiện đã được tách ra giải quyết trong vụ việc khác do đó không xét đến.
- Đỗ Văn K3, Nguyễn Văn Đ với Trần Thị G, Nguyễn Thị P1 theo kết luận điều tra đã được tách ra giải quyết trong vụ việc khác do đó đề nghị không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Các ý kiến tranh luận:
Các bị cáo nhận thấy đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh của bị cáo là đúng, hình phạt hoàn toàn phù hợp nên không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo Vũ Thị H: Bị cáo thấy vô cùng ân hận về hành vi của mình, mong HĐXX xem xét hoàn cảnh của bị cáo bệnh tật, là lao động chính trong gia đình, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Lê Thị T1: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, vô cùng hối hận. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh bị cáo phải nuôi con đang tuổi ăn học, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Thị K: Bị cáo nhận thấy hành vi của bản thân là sai trái, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Thị H1: Bị cáo đã nhận thức được sai lầm. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
[2] Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Trong ngày 06/10/2023 Vũ Thị H tổ chức đánh bạc cùng với Lê Thị T1; Vũ Thị H tổ chức đánh bạc cho Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị K đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề; Cụ thể: Vũ Thị H tổ chức đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề và thu gom số lô, số đề qua Lê Thị T1, bán số lô số đề trực tiếp cho Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị H1 với tổng số tiền H tổ chức đánh bạc là 73.267.000 (Bảy mươi ba triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng (Trong đó: bán số lô, số đề với số tiền là 39.417.000 đồng, trả tiền trúng thưởng số tiền là 32.250.000 đồng);
Cùng ngày, Lê Thị T1 đã tổ chức đánh bạc dưới hình thức trực tiếp bán và thu gom số lô, số đề cho Vũ Thị H với tổng số tiền là 41.765.000đ (bán số lô, số đề với số tiền là 24.215.000 đồng, trúng thưởng với số tiền là 17.550.000 đồng);
Cùng trong ngày 06/10/2023, các bị cáo Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị H1 đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề của Vũ Thị H cụ thể: Nguyễn Thị K đã thực hiện hành vi mua, bán số lô số đề với Vũ Thị H với tổng số tiền là 26.470.000 đồng (mua số lô, số đề với số tiền 11.770.000 đồng; trúng thưởng với số tiền là 14.700.000đ); Nguyễn Thị H1 đã thực hiện hành vi đánh bạc với Vũ Thị H với tổng số tiền là 5.032.000 đồng (mua số lô, số đề với số tiền 3.430.000đ; trúng thưởng với số tiền là 1.600.000đ) nhằm hưởng lợi bất chính.
Hành vi của các bị cáo Vũ Thị H, Lê Thị T1 đã cấu thành tội Tổ chức đánh bạc. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội tổ chức đánh bạc theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị H1 đã cấu thành tội đánh bạc. Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do hám lời bất chính đã thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc dưới hình thức tổ chức ghi số lô, số đề và mua số lô số đề được thua bằng tiền. Cần có mức án khiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra để giáo dục các bị cáo.
Đối với bị cáo Vũ Thị H là người giữ vai trò chính tổ chức đánh bạc nên phải nghiêm trị, áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo còn lại mới đảm bảo sự răn đe và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Lê Thị T1, là người tổ chức đánh bạc với vai trò giúp sức cho Vũ Thị H thu gom bán số lô, số đề nhưng số tiền ít hơn Vũ Thị H nên giữ vai trò thấp hơn Vũ Thị H.
Các bị cáo Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị H1 có hành vi đánh bạc nhưng đều là người có nhân thân tốt. Các bị cáo đều lần đầu phạm tội, trước khi bị xử lý về đánh bạc, đánh bạc ngày 06/10/2023 chưa từng có tiền án, tiền sự; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo H, T1, K, H1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên xem xét cho các bị cáo khi lượng hình.
Tuy nhiên xét về mức độ nghiêm trọng của hành vi thì bị cáo Nguyễn Thị K đánh bạc số tiền nhiều hơn bị cáo H1 nên mức hình phạt phải cao hơn.
Đối với các bị cáo không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, nên áp dụng hình phạt tù có điều kiện cũng đảm bảo ý nghĩa của hình phạt, đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt các bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả tội phạm mà các bị cáo đã gây ra.
Xét về vai trò của từng bị cáo trong vụ án:
Vũ Thị H, Lê Thị T1 là người có vai trò chính, cầm đầu, tổ chức đánh bạc nhằm thu lời bất chính. Trong ngày 06/10/2023 H đã tổ chức đánh bạc số tiền là 73.267.000 (Bảy mươi ba triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng và T1 đã tổ chức đánh bạc số tiền là 41.765.000 (Bảy mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng.
Vũ Thị H tổ chức đánh bạc với tất cả các bị cáo với số tiền nhiều nhất nên giữ vai trò chính, do vậy hình phạt cũng cần nghiêm khắc nhất. Sau đó là đến bị cáo T1.
Các bị cáo Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị H1 đánh bạc với vai trò thực hành giản đơn, căn cứ vào số tiền đánh bạc và thu lời bất chính từ việc đánh bạc nên vai trò lần lượt theo số tiền tham gia vào hành vi đánh bạc: Bị cáo K đánh bạc với số tiền 26.470.000 đồng cao hơn nên mức hình phạt phải tương xứng với số tiền đã đánh bạc và cao hơn bị cáo H1. Bị cáo Nguyễn Thị H1 đánh bạc với số tiền 5.032.000 đồng nên sẽ được xem xét mức hình phạt thấp nhất so với các bị cáo.
Các bị cáo cùng tham gia tổ chức đánh bạc, đánh bạc nên là đồng phạm của nhau.
Bên cạnh việc xem xét định lượng hình phạt căn cứ số tiền đã tham gia đánh bạc Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để đảm bảo phân hóa hình phạt đối với từng bị cáo.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Vũ Thị H, Lê Thị T1, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo Vũ Thị H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; sau khi phạm tội đã đến cơ quan công an đầu thú, bị cáo trong quá trình công tác đã từng là giáo viên mầm non được Phòng giáo dục huyện Đ công nhận có thành tích trong hội thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện năm 2007 của huyện Đ, tỉnh Hòa Bình là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Thị T1: Quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội đã đầu thú; bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn là lao động chính trong gia đình, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị H1 quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Sau khi phạm tội đã đến cơ quan công an đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo khi lượng hình.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo việc làm, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào các Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu xung công đối với các tài sản các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội gồm:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG C9 PRO, màu vàng, số IMEI1: 357160081587033, số IMEI2: 35716081587031, bên trong lắp 01 (một) sim V1, tình trạng đã qua sử dụng (thu giữ của Vũ Thị H) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đỏ, số IMEI1: 357838491065142, số IMEI2: 357838491088896, tình trạng đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Thị T1).
Các tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo quyết định chuyển vật chứng và biên bản giao nhận vật chứng.
- Đối với số tiền hưởng lời bất chính: Do các bị cáo chưa kịp thanh toán tiền với nhau số tiền đánh bạc và chưa được trả thưởng từ việc đánh bạc thì bị cơ quan cảnh sát điều tra phát hiện nên bị cáo nào đánh bạc giữ số tiền chưa thanh toán sẽ phải bị tịch thu xung công. Số tiền hưởng lời bất chính là tiền chiết khấu hoa hồng của người tổ chức đánh bạc do chưa thanh toán hiện nằm trong tiền đánh bạc nên chỉ thu từ số tiền đánh bạc. Vì vậy, cần truy thu xung công quỹ Nhà nước số tiền hưởng lời bất chính của các bị cáo, cụ thể:
- - Bị cáo Lê Thị T1 là 24.215.000 đồng;
- - Bị cáo Nguyễn Thị K là 11.770.000 đồng;
- - Bị cáo Nguyễn Thị H1 là 3.432.000 đồng;
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, loại màn hình cảm ứng, tình trạng đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, loại điện thoại đen trắng có phím bấm, tình trạng đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội của Nguyễn Thị K và Nguyễn Thị H1, quá
- trình điều tra chưa thu giữ được, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã ra Quyết định truy tìm vật chứng, khi tìm được sẽ xử lý theo quy định. Nên HĐXX không đề cập giải quyết.
- 02 (hai) tờ tích-kê ghi số lô, số đề trái phép của Đỗ Văn K3 và Nguyễn Văn Đ với Lê Thị T1 thu giữ trong quá trình điều tra đã được chuyển theo hồ sơ vụ án tiếp tục lưu hồ sơ.
- 02 (hai) tờ tích-kê ghi số lô, số đề trái phép và số tiền 190.000 đồng, 115.000 đồng của Đỗ Văn K3, Nguyễn Văn Đ với Trần Thị G, Nguyễn Thị P1 hiện đã được tách ra giải quyết trong vụ việc khác do đó không xét đến.
- Đối với người phụ nữ tên H, địa chỉ tiểu khu A phường T, thành phố H mà bị cáo Vũ Thị H khai là chủ gom số lô số đề từ Vũ Thị H do không xác định được nên không thể xem xét trách nhiệm hình sự trong vụ án này. Số tiền sẽ trả thưởng (sẽ hưởng lời bất chính) do người phụ nữ tên H (địa chỉ tiểu khu A, phường T) chưa được xác định được con người cụ thể nên không có cơ sở để truy thu trong vụ án này. Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra làm rõ tránh bỏ lọt tội phạm.
- Đối với hành vi đánh bạc (mua, bán số lô, số đề) của Đỗ Văn K3, Nguyễn Văn Đ, Trần Thị G, Nguyễn Thị P1 số tiền chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề của các đối tượng trên liên quan đến vụ án này chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan điều tra đã ra tách ra giải quyết theo vụ việc khác theo quy định. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
- Đối với số tiền đánh bạc của Đỗ Văn K3, Nguyễn Văn Đ do bị cáo Tân thu nằm trong tiền thu gom đề nên truy thu theo số tiền đánh bạc của T1.
[8] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Đối với bị cáo Vũ Thị H: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Đối với bị cáo Lê Thị T1: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Đối với bị cáo Nguyễn Thị K: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Đối với bị cáo Nguyễn Thị H1: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố:
Các bị cáo Vũ Thị H, Lê Thị T1 phạm Tội tổ chức đánh bạc;
Các bị cáo Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị H1 phạm Tội đánh bạc.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 24 (hai mươi tư) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án, ngày 16/7/2024;
- Xử phạt bị cáo Lê Thị T1 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án, ngày 16/7/2024;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án, ngày 16/7/2024;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án, ngày 16/7/2024;
Giao bị cáo Vũ Thị H, Nguyễn Thị H1 cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Lê Thị T1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Thị K cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu phát mại xung công: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG C9 PRO, màu vàng, số IMEI1: 357160081587033, số IMEI2: 357161081587031, bên trong lắp 01 (một) sim V1, tình trạng đã qua sử dụng (thu giữ của Vũ Thị H) đựng trong phong bì niêm phong dán kín mặt trước ghi “Điện thoại của Vũ Thị H nhãn hiệu SAMSUNG C9 PRO, màu vàng, số IMEI1: 357160081587033, số IMEI2: 357161081587031, tình trạng đã qua sử dụng, kèm 01 sim V1” và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đỏ, số IMEI1: 357838491065142, số IMEI2: 357838491088896, tình trạng đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Thị T1) đựng trong 01 phong bì niêm phong dán kín, mặt trước ghi “Điện thoại của Lê Thị T1 nhãn hiệu Iphone 11, màu đỏ, số IMEI1: 357838491065142, số IMEI2: 357838491088896, tình trạng đã qua sử dụng”. Mặt sau đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và các chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 103/BB/24 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Truy thu xung công vào ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo hưởng lời bất chính từ hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc: Bị cáo Lê Thị T1 là 24.215.000 (Hai mươi bốn triệu hai trăm mười lăm nghìn) đồng; bị cáo Nguyễn Thị K là 11.770.000 (Mười một triệu bảy trăm bảy mươi nghìn) đồng; bị cáo Nguyễn Thị H1 là 3.432.000 (Ba triệu bốn trăm ba mươi hai nghìn) đồng;
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Vũ Thị H, Lê Thị T1, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là nguyên đơn dân sự; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đà Giang |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về tội tổ chức đánh bạc và tội đánh bạc
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội tổ chức đánh bạc và Tội đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạt tù cho hưởng án treo
