|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/5/2024
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tất Ái
Ông Võ Văn Hùng
-Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Trà My – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXX-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1988. Địa chỉ: số G ấp P, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Chỗ ở: ấp S, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. (chị H bị câm điếc bẩm sinh, đọc và viết chữ được). Có đơn xin vắng mặt.
2/ Bị đơn: Anh Lý Hồng T, sinh năm: 1984. Vắng mặt
Địa chỉ: số G ấp P, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 18/01/2024 của chị Nguyễn Ngọc H và trong quá trình giải quyết vụ án, nội dung khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Chị Nguyễn Ngọc H và anh Lý Hồng T cưới nhau năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Cả hai quen biết nhau do cô ruột của chị H lấy chồng là cậu của anh T, qua giới thiệu thì hai người biết mặt nhau nên nhắn tin qua lại tìm hiểu, anh T cũng biết chị H bị câm điếc bẩm sinh. Sau một thời gian thì hai bên tiến đến hôn nhân, có làm đám cưới rước dâu và làm đầy đủ các nghi thức theo phong tục tập quán. Thời gian đầu vợ chồng chung sống tại xã T rất hạnh phúc, gần đây anh T có quen biết người phụ nữ khác, còn chụp hình và quay phim gửi nên chị H rất tức giận, có dùng dao tự đâm bản thân nhưng có người chị chồng can ngăn, khuyên bảo (viết bằng chữ), từ đó chị H về nhà mẹ ở Bến Tre sinh sống từ tháng 11/2023 đến nay, anh T không có qua thăm hỏi gì cả nên sau đó chị H làm đơn ly hôn.
Nay, chị H xác định không thể tiếp tục về chung sống với anh T, vợ chồng đã hết tình cảm nên chị xin được ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 02 con chung tên Lý Ngọc N, sinh ngày 29/6/2017 và Lý Tuyết N1, sinh ngày 02/6/2019. Hiện con chung đang ở với chị H bên nhà mẹ ruột của chị. Lúc vợ chồng chưa mâu thuẫn thì anh T có phụ chi phí nuôi con, nhưng nay 7-8 tháng anh T không có phụ chi phí gì. Anh T làm tài xế xe tải (làm thuê), thu nhập chị H không biết được do anh T không nói thật. Chị H làm thợ may cho tổ hợp, lương khoảng 6.000.000 đồng/tháng. Việc nuôi con có mẹ chị H (làm vườn) phụ lo. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, chị yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 6.000.000 đồng (mỗi con là 3.000.000 đồng).
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết
Anh Lý Hồng T đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H và cũng không đến Tòa án tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Anh T vắng mặt không có lý do.
*Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đối với đương sự: nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn thực hiện chưa đúng pháp luật tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: cho chị H được ly hôn với anh T; về con chung, giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, buộc anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.500.000 đồng cho mỗi con; tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Ngọc H có đơn xin vắng mặt; anh Lý Hồng T được triệu tập dự phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Ngọc H và anh Lý Hồng T kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn vào ngày 12/11/2015 tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 63, quyển số 01/2015, như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Theo chị H thì vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến khoảng giữa năm 2023 thì có mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, từ đó vợ chồng luôn cãi nhau và ly thân nhau, gia đình khuyên bảo anh T không được. Đến tháng 11/2023 thấy không thể tiếp tục chung sống nên chị H về quê ở Bến Tre sinh sống, anh T không đến hỏi thăm hay rước về. Hiện nay tình cảm vợ chồng đã hết, hôn nhân không thể hàn gắn cũng như không thể kéo dài nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Xét thấy, chị H xin ly hôn nhưng anh T không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Tại phiên tòa hôm nay anh T không đến Tòa án và vắng mặt không lý do, điều này thể hiện anh T không có ý chí mong muốn vợ chồng hàn gắn, không quan tâm đến tình cảm vợ chồng mà để mặc cho chị H quyết định.
Xét, về tình nghĩa vợ chồng thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau nhưng hiện giữa anh T và chị H không còn tình nghĩa vợ chồng, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó nay chị H xin ly hôn với anh T là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung:
Có 02 con chung tên Lý Ngọc N, sinh ngày 29/6/2017 và Lý Tuyết N1, sinh ngày 02/6/2019. Hiện con chung đang ở với chị H bên nhà mẹ ruột của chị. Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung.
Xét ý kiến của chị H thấy rằng các con đang sinh sống ổn định với chị kể từ ngày anh chị mâu thuẫn và sống ly thân nhau. Anh T không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của chị H. Do đó để ổn định về mặt tâm sinh lý, nơi sinh sống của con, Hội đồng xét xử nghĩ cần tiếp tục giao con cho chị H nuôi dưỡng
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: chị H yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng là 6.000.000 đồng (mỗi con là 3.000.000 đồng).
Xét thấy, hiện nay các con đều được đi học, việc nuôi dưỡng cho con sẽ cần nhiều chi phí, chị H làm thuê cho tổ hợp may, thu nhập của chị cũng không cao nên sẽ vất vả cho việc nuôi con. Anh T làm nghề tài xế, thu nhập không xác định được nhưng vẫn đảm bảo cho cuộc sống khi vợ chồng còn chung sống.
Xét, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và Gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Mức cấp dưỡng chị H yêu cầu so với nhu cầu thiết yếu của con trẻ là hơi cao so với thu nhập không xác định của anh T. Việc nuôi dưỡng con chung là nghĩa vụ của cả cha và mẹ, do đó Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận mức cấp dưỡng 1.500.000đồng/tháng cho mỗi con, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi.
[5] Về tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết, anh T vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: chị H, anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[7] Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Ngọc H được ly hôn với anh Lý Hồng T.
- Về con chung: Giao chị Nguyễn Ngọc H tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Lý Ngọc N, sinh ngày 29/6/2017 và Lý Tuyết N1, sinh ngày 02/6/2019.
Anh Lý Hồng T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Lý Hồng T mỗi tháng cấp dưỡng nuôi con Lý Ngọc N số tiền 1.500.000 đồng, nuôi con Lý Tuyết N1 số tiền 1.500.000 đồng, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung Lý Ngọc N, Lý Tuyết N1 tròn 18 tuổi.
Kể từ ngày chị H có yêu cầu thi hành án, trường hợp anh T chậm thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc H chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0005668 ngày 23/01/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xem như đã nộp xong án phí. Anh Lý Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Chị H, anh T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Bảnh |
4
Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hằng xin ly hôn và yêu cầu nuôi hết 02 con
