|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 82/2024/KDTM-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ – TỈNH ĐỒNG NAΙ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Chính .
- Ông Trần Công Danh.
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 920/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 498/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024, thông báo dời lịch số 428/TB-TA ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (B).
Địa chỉ: T đường T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T.
Đơn vị được ủy quyền khởi kiện và tham gia toàn bộ quá trình tố tụng: Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đ1.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T1 – Giám đốc chi nhánh.
Địa chỉ: Số B, đường Đ, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Ông T1 ủy quyền lại cho ông Nguyễn Như L, sinh năm 1982.
Địa chỉ: B, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn:
- Ông Lê Quốc T2, sinh năm 1979.
- Bà Trương Thị D, sinh năm 1985.
Địa chỉ: 67/3, khu B, ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: T, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T2, bà D: Ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1976 (văn bản ủy quyền ngày 10/01/2024).
Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Ông L có đơn xin giải quyết vắng mặt; các đương sự khác vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ (B) do ông Nguyễn Như L đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D có ký hợp đồng thoả thuận với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1, Đồng Nai ngày MERGEFIELD Ngày_HĐTD 23/03/2022với Hợp đồng tín dụng hạn mức số 49/2022/17049970/HĐTDvay vốn tại Ngân hàng với hạn mức số tiền là 7.000.000.000 đồng. Mục đích vay: kinh doanh vật liệu xây dựng. Thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng hạn mức. Lịch trả nợ: lịch trả nợ gốc: vào ngày đáo hạn của từng Hợp đồng tín dụng cụ thể; Lịch trả lãi: vào ngày 25 hàng tháng. Hiện tại, ông T2, bà D có 04 khoản vay tại Ngân hàng, cụ thể:
- Tài khoản vay 67082000840625 Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.1/2022/17049970/HĐTD ngày 25/03/2022: Vào ngày 25/03/2022, ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D có ký Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.1/2022/17049970/HĐTD vay vốn Ngân hàng với số tiền vay: 2.000.000.000 đồng; Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua vật liệu xây dựng; Thời hạn vay: 10 tháng; Lãi suất trong hạn: 9,6%/năm áp dụng cố định trong suốt thời gian vay vốn; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi chậm trả 10%/năm. Ngân hàng đã thực hiện giải ngân số tiền: 2.000.000.000 đồng cho khách hàng đúng theo hợp đồng đã ký.
- Tài khoản vay 67082000840883 Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.2/2022/17049970/HĐTD ngày 28/03/2022: Vào ngày 28/03/2022, ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D có ký Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.2/2022/17049970/HĐTD vay vốn Ngân hàng với số tiền vay: 2.200.000.000 đồng; Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua vật liệu xây dựng; Thời hạn vay: 10 tháng; Lãi suất trong hạn: 9,6%/năm áp dụng cố định trong suốt thời gian vay vốn; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi chậm trả 10%/năm. Ngân hàng đã thực hiện giải ngân số tiền: 2.200.000.000 đồng cho khách hàng đúng theo hợp đồng đã ký.
- Tài khoản vay 67082000841336 Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.3/2022/17049970/HĐTD ngày 29/03/2022: Vào ngày 29/03/2022, ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D có ký Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.3/2022/17049970/HĐTD vay vốn Ngân hàng với số tiền vay: 1.800.000.000 đồng; Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua vật liệu xây dựng; Thời hạn vay: 10 tháng; Lãi suất trong hạn: 9,6%/năm áp dụng cố định trong suốt thời gian vay vốn; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi chậm trả 10%/năm. Ngân hàng đã thực hiện giải ngân số tiền: 1.800.000.000 đồng cho khách hàng đúng theo hợp đồng đã ký.
- Tài khoản vay 67082000841992 Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.4/2022/17049970/HĐTD ngày 31/03/2022: Vào ngày 31/03/2022, ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D có ký Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.4/2022/17049970/HĐTD để vay vốn Ngân hàng với số tiền vay: 1.000.000.000 đồng; Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua vật liệu xây dựng; Thời hạn vay: 10 tháng; Lãi suất trong hạn: 9,6%/năm áp dụng cố định trong suốt thời gian vay vốn; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi chậm trả 10%/năm. Ngân hàng đã thực hiện giải ngân số tiền: 1.000.000.000 đồng cho khách hàng đúng theo hợp đồng đã ký.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 323, tờ bản đồ số 99, diện tích 9.666,5m² xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtMERGEFIELD SỐ_TS CS818773 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai thừa uỷ quyền Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Nguyễn Hoàng A ngày 16/07/2019được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh V cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Lê Quốc T2 ngày 27/8/2019 (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 49/2022/17049970/HĐBĐ ngày 23/03/2022 giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và Bên thế chấp ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D). Giao dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ ngày 24/3/2022.
* Trong quá trình vay vốn ông T2, bà D đã không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng B theo đúng lịch trả nợ như Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Tạm tính đến ngày 14/6/2024 ông T2, bà D còn nợ Ngân hàng B là: 8.536.219.177 đồng (Tám tỷ năm trăm ba mươi sáu triệu hai trăm mười chín nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 7.000.000.000 đồng.
- Nợ lãi: 1.536.219.177 đồng. Trong đó: lãi trong hạn là 150.663.014 đồng, lãi quá hạn là 1.385.556.164 đồng.
Vì vậy, Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông T2, bà D phải trả cho Ngân hàng số nợ còn thiếu là 8.536.219.177 đồng. Trong đó nợ gốc: 7.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 150.663.014 đồng, nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 14/6/2024 là 1.385.556.164 đồng và lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số 49/2022/17049970/HĐTDMERGEFIELD Ngày_HĐTD 23/03/2022đến khi ông Lê Quốc TuấnbàTrương Thị D1 xong toàn bộ nghĩa vụ đối Ngân hàng B.
Trong trường hợp ông T2, bà D không trả nợ cho Ngân hàng thì tài sản bảo đảm để thi hành án cho khoản vay trên gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 323, tờ bản đồ số 99, diện tích 9.666,5m² xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtCS818773Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai thừa uỷ quyền Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Nguyễn Hoàng A ngày 16/07/2019được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh V cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Lê Quốc T2 ngày 27/8/2019 (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 49/2022/17049970/HĐBĐ ngày 23/03/2022 giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và Bên thế chấp ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D). Giao dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ ngày 24/3/2022.
Về án phí và chi phí tố tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Ngân hàng không còn yêu cầu khởi kiện nào khác.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Hoàng A đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Lê Quốc T2 và bà Trương Thị D trình bày: Ông T2, bà D có vay Ngân hàng B theo hợp đồng tín dụng hạn mức số MERGEFIELD SỐ_HĐTD 49/2022/17049970/HĐTDvay số tiền là 7.000.000.000đ, bị đơn đã nhận số tiền giải ngân đầy đủ và bị đơn có thế chấp thửa đất 323, tờ bản đồ số 99, địa chỉ tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng NaiHiện nay ông T2, bà D còn nợ Ngân hàng B số tiền gốc là 7.000.000.000 đồng cùng với các khoản lãi phát sinh. Vì vậy, nay Ngân hàng B khởi kiện thì bị đơn đồng ý trả nợ và xử lý tài sản thế chấp nếu không trả được nợ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà:
Về thủ tục tố tụng: Về việc thụ lý đơn, xác định quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án và thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa và người tham gia tố tụng được đảm bảo.
Về nội dung vụ án: Giữa Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1, Đồng Nai với ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D có thoả thuận ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 49/2022/17049970/HĐTD23/03/2022 để vay vốn tại Ngân hàng với hạn mức số tiền là 7.000.000.000 đồng. Hiện tại ông T2, bà D có 04 khoản vay tại Ngân hàng, cụ thể: Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.1/2022/17049970/HĐTD ngày 25/03/2022 với số tiền vay: 2.000.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.2/2022/17049970/HĐTD ngày 28/03/2022 với số tiền 2.200.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.3/2022/17049970/HĐTD ngày 29/03/2022 với số tiền 1.800.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.4/2022/17049970/HĐTD ngày 31/03/2022 với số tiền 1.000.000.000 đồng.
Tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 323, tờ bản đồ số 99, diện tích 9.666,5m² xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Do ông T2, bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T2, bà D phải trả cho Ngân hàng số nợ còn thiếu là 8.536.219.177 đồng. Trong đó nợ gốc: 7.000.000.000 đồng, nợ lãi là: 1.536.219.177 đồng, trong đó: nợ lãi trong hạn là 150.663.014 đồng, nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 14/6/2024 là 1.385.556.164 đồng và lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số 49/2022/17049970/HĐTD23/03/2022từ ngày 15/6/2024 cho đến khi ông T2, bà D thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông T2, bà D không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí, chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn ông Lê Quốc T2 có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh. Ông T2, bà D vay Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 số tiền 7.000.000.000 đồng với mục đích vay là kinh doanh vật liệu xây dựng. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ thì quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại Điều 5 của Hợp đồng tín dụng số: 49/2022/17049970/HĐTD23/03/2022, các bên thỏa thuận Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Việc các bên thỏa thuận lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39, Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
[1.2] Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ là nguyên đơn; ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D là bị đơn. Ngân hàng có văn bản uỷ quyền cho ông L, bị đơn ủy quyền cho ông Nguyễn Hoàng A thay mặt tham gia tố tụng. Văn bản uỷ quyền phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[1.3] Ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D do ông Nguyễn Hoàng A đại diện theo uỷ quyền đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và các phiên toà xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Ông L đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
[2] Xét về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[2.1] Đối với yêu cầu tranh chấp hợp đồng tín dụng: Căn cứ vào các Hợp đồng tín dụng hạn mức số 49/2022/17049970/HĐTD23/03/2022, Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.1/2022/17049970/HĐTD ngày 25/03/2022; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.2/2022/17049970/HĐTD ngày 28/03/2022; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.3/2022/17049970/HĐTD ngày 29/03/202; Hợp đồng tín dụng cụ thể số 49.4/2022/17049970/HĐTD ngày 31/03/2022 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ với ông T2, bà D thể hiện Ngân hàng cho ông T2, bà D vay số tiền 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng). Quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông T2, bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông T2, bà D phải trả số tiền 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng) nợ gốc là có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu về tiền lãi: Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T2, bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T2, bà D trả tiền lãi do vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký với số tiền tính đến hết ngày 14/6/2024 là 1.536.219.177 đồng (nợ lãi trong hạn là 150.663.014 đồng, nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 14/6/2024 là 1.385.556.164 đồng) và lãi suất phát sinh theo thoả thuận của Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết.
Xét các chứng cứ mà Ngân hàng cung cấp thể hiện ông T2, bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết nên phải có trách nhiệm trả tiền lãi theo hợp đồng. Số tiền lãi mà Ngân hàng đã tính toán là chính xác. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông T2, bà D trả tiền lãi tính đến hết ngày 14/6/2024 là 1.536.219.177 đồng (Một tỷ năm trăm ba mươi sáu triệu hai trăm mười chín nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng) là có căn cứ.
Qua nhận định trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông T2, bà D phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và tiền lãi còn nợ là 8.536.219.177 đồng. Trong đó nợ gốc: 7.000.000.000 đồng, nợ lãi là: 1.536.219.177 đồng, trong đó: nợ lãi trong hạn là 150.663.014 đồng, nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 14/6/2024 là 1.385.556.164 đồng.
Kể từ ngày 15/6/2024, ông T2, bà D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ thì lãi suất mà ông T2, bà D phải tiếp tục thanh toán cho Đ theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
[2.2] Xét yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của Ngân hàng: Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 323, tờ bản đồ số 99, diện tích 9.666,5m² xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtsố MERGEFIELD SỐ_TS CS818773 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai thừa uỷ quyền Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Nguyễn Hoàng A ngày 16/07/2019được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh V cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Lê Quốc T2 ngày 27/8/2019 (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 49/2022/17049970/HĐBĐ ngày 23/03/2022 giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và Bên thế chấp ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D). Giao dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ ngày 24/3/2022.
Tài liệu xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án thể hiện trên đất không có tài sản, công trình gì, không có người sinh sống quản lý đất. Trên đất chỉ có một số cây mọc tạp không có giá trị. Hiện trạng đất thế chấp không thay đổi so với thời điểm thẩm định cho vay.
Xét thấy, hợp đồng thế chấp nói trên được các bên tự nguyện ký kết, được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp ông T2, bà D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên để thu hồi nợ là đúng quy định của pháp luật, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo cho khoản vay của Ngân hàng.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 3.000.000₫ (Ba triệu đồng), đã được Ngân hàng tạm ứng. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông T2, bà D phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ này. Ông T2, bà D phải hoàn trả cho Ngân hàng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng.
[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông T2, bà D phải chịu án phí với số tiền 116.536.219 đồng (Một trăm mười sáu triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn hai trăm mười chín đồng). Ngân hàng được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 57.500.000 đồng (Năm mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009389 ngày 01 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 68, 147, 158, 227, 228, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 4, 91, 95 và 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Áp dụng Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) đối với ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Buộc ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) số tiền 8.536.219.177 đồng. Trong đó nợ gốc: 7.000.000.000 đồng, nợ lãi là: 1.536.219.177 đồng (bao gồm nợ lãi trong hạn là 150.663.014 đồng, nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 14/6/2024 là 1.385.556.164 đồng).
- Kể từ ngày 15/6/2024, ông T2, bà D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ thì lãi suất mà ông T2, bà D phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
- Tài sản thế chấp bảo đảm thi hành án là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 323, tờ bản đồ số 99, diện tích 9.666,5m² xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CS818773 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai thừa uỷ quyền Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Nguyễn Hoàng A ngày 16/07/2019 được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh V cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Lê Quốc T2 ngày 27/8/2019. Chi tiết tại Hợp đồng thế chấp bất động sản số 49/2022/17049970/HĐBĐ ngày 23/03/2022 giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và Bên thế chấp ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D. Giao dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ ngày 24/3/2022.
-
Về án phí:
- Ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D phải nộp số tiền 116.536.219 đồng (Một trăm mười sáu triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn hai trăm mười chín đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 57.500.000 đồng (Năm mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009389 ngày 01 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Quốc T2, bà Trương Thị D có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền chi phí tố tụng 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cũng bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trần Trúc Thuỷ |
8
Bản án số 82/2024/KDTM-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ – TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 82/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng BIDV-ông Lê Quốc T2 tranh chấp HĐ tín dụng
