Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14 - 5 - 2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Mỹ Hường và ông Đặng Khoa Thi

Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 131/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 225/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1978. Có đơn xin xét xử vắng mặt

    Cư trú: Số A, khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

  2. Bị đơn: Ông Lê Đoàn So N, sinh năm 1979, Vắng mặt

    Cư trú: số A, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc T, trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc T và ông Lê Đoàn So N tự nguyện quen biết, tìm hiểu sau đó tiến đến hôn nhân. Đến ngày 02/01/2003, vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 16 ngày 02/01/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông So N không quan tâm chăm lo vun đắp hạnh phúc gia đình, không phụ giúp kinh tế gia đình, ham mê cờ bạc. Cuối năm 2017, đầu năm 2018 bà T đã khởi kiện xin ly hôn ra Toà án nhưng vì thương con và cho ông So N cơ hội sửa chữa nên bà T rút đơn khởi kiện. Sau khi đoàn tụ lại, ông So N cũng chứng nào tật nấy, không sửa đổi và hiện tại vợ chồng sống ly thân nhau. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông So N.

+ Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc T và ông Lê Đoàn S Ni có 01 (một) con chung tên Lê Thị Ngọc Y, sinh ngày 18/12/2002. Do con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn: Ông Lê Đoàn So N không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Ngọc T tranh chấp về ly hôn với ông Lê Đoàn So N, tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lê Đoàn So N có nơi cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Đoàn So N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa, bà Nguyễn Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt bà Nguyễn Ngọc T và ông Lê Đoàn So N.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân:

[3.1.1] Bà Nguyễn Ngọc T và ông Lê Đoàn So N tự nguyện quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 02/01/2003. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình. Bà Nguyễn Ngọc T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Đoàn So N. Bà Nguyễn Ngọc T cho rằng trong quá trình chung sống ông Lê Đoàn So N không quan tâm chăm lo vun đắp hạnh phúc gia đình, không phụ giúp kinh tế gia đình, ham mê cờ bạc và hiện tại vợ chồng sống ly thân nhau.

[3.1.2] Hội đồng xét xử xét: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Đoàn So N không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc T; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham dự các phiên tòa. Điều này thể hiện ông Lê Đoàn So N không muốn đoàn tụ gia đình. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc T là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc T và ông Lê Đoàn S Ni có 01 (một) con chung tên Lê Thị Ngọc Y, sinh ngày 18/12/2002. Xét thấy, con chung Lê Thị Ngọc Y đã thành niên và theo phần trình bày của bà T thì con chung Lê Thị Ngọc Y có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông Lê Đoàn So N cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên có phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[3.4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc T. Bà Nguyễn Ngọc T được ly hôn với ông Lê Đoàn So N.
  2. Về con chung: Không xem xét.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001639 ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Ngọc T đã thực hiện xong.
  5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc T và ông Lê Đoàn So N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - THADS TPLX;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc T kiện xin ly hôn Lê Đoàn So N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger