Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14-5-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng Tường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Ngọc Diệu.
  2. Ông Trương Văn Phúc.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Võ Thị Lan Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: ông Đào Văn Trong – Kiểm sát viên.

Ngày 14/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 174/2024/TLST–HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/4/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1993.
  2. Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.

    Chỗ ở hiện nay: ấp F, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  3. Bị đơn: Anh Lê Thanh T (H), sinh năm 1985.
  4. Địa chỉ: số nhà A, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.

    (Chị Nguyễn Thị Q, anh Lê Thanh T: có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày:

Chị và anh T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H ngày 19/10/2011. Anh, chị chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên cự cãi. Ngoài ra, anh T đi làm về giữ tiền riêng, không chăm lo cho con và thường uống rượu về kiếm chuyện gây gổ. Có khoảng thời gian vợ chồng cự cãi thường xuyên nên chị có nhắn tin qua lại với người khác dẫn đến bị hiểu nhầm, do đó chị không còn liên lạc với người này nữa. Tuy nhiên, mỗi lần uống rượu anh T lại nhắc đến chuyện này, lớn tiếng nặng nhẹ chị nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Từ tháng 8/2023, chị và hai con về nhà cha mẹ ruột ở và sống ly thân cho đến nay. Thời gian này anh T có đến thăm, mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng lần nào cũng cự cãi, sau đó anh xin lỗi và sự việc tương tự lại lặp lại nhiều lần. Gần đây nhất, anh T còn có hành vi bóp cổ chị. Chị đã cho anh T nhiều cơ hội nhưng anh T không sửa đổi. Nay chị không còn tình cảm với anh T, không thể tiếp tục chung sống nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Lê Nguyễn Minh N, sinh ngày 08/01/2013 và Lê D, sinh ngày 07/10/2014, các con đang sống cùng chị. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu số tiền 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Lê Thanh T trình bày:

Anh và chị Q kết hôn vào năm 2011. Vợ chồng anh chung sống hạnh phúc, thỉnh thoảng có cự cãi do bất đồng quan điểm. Đến tháng 8/2023 thì chị Q đưa hai con về nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Do chị Q có quan hệ bất chính với người khác nên mỗi lần uống rượu say anh không kiềm chế được nên có cự cãi và có lần có hành vi bóp cổ chị Q. Anh đi làm về vẫn chăm sóc con và gia đình. Tiền lương anh chăm lo trong nhà, phần dư anh gửi lại chị chủ nơi anh làm việc và hiện anh đã tiết kiệm được số tiền 70.000.000 đồng, để dành sau này lo cho các con. Anh nhận thấy do bản thân nóng giận nên có những lời nói, hành động không đúng. Nay anh còn thương chị Q và thương hai con, mong muốn hai con có một gia đình hạnh phúc nên không đồng ý ly hôn.

Anh và chị Q có 02 con chung là Lê Nguyễn Minh N, sinh ngày 08/01/2013 và Lê D, sinh ngày 07/10/2014, hiện nay các con đang sống với chị Q. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, anh yêu cầu được nuôi hai con, tự nguyện không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại anh làm công việc thu gom dừa, thu nhập bình quân là 9.000.000 (Chín triệu) đồng/tháng. Nếu chị Q yêu cầu cấp dưỡng 2.000.000 đồng/cháu/tháng thì anh đủ khả năng cấp dưỡng, vì anh đi làm là để lo cho các con nên anh còn có khả năng cho con số tiền nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu Tòa án giải quyết cho chị Q trực tiếp nuôi con thì anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Bị đơn anh Lê Thanh T trình bày: do anh còn thương vợ, thương con nên không đồng ý ly hôn. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn anh yêu cầu nuôi dưỡng một con chung nhằm mục đích để cha con hủ hỉ và níu kéo quan hệ hôn nhân. Trường hợp, Tòa án giao hai con cho chị Q nuôi dưỡng thì anh đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi con chung số tiền 1.000.000 đồng/tháng.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q giữ nguyên yêu cầu ly hôn và đồng ý anh T cấp dưỡng nuôi mỗi con chung số tiền 1.000.000 đồng/tháng.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Về nội dung: Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Q.

Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Lê Thanh T.

Về con chung: giao cháu Lê Nguyễn Minh N, sinh ngày 08/01/2013 và Lê D, sinh ngày 07/10/2014 cho chị Q trực tiếp nuôi đến lúc đủ 18 tuổi. Buộc anh T tự nguyện cấp dưỡng cho con 1.000.000 đồng/cháu/tháng.

Về tài sản chung: Chị Q, anh Tân tự thỏa thuận.

Về nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: chị Nguyễn Thị Q khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Lê Thanh T; anh T có địa chỉ tại huyện G, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Về nội dung:

[1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q và anh Lê Thanh T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã H ngày 19/10/2011. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh T là hợp pháp. Chị Q yêu cầu được ly hôn với anh T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị Q và anh T thống nhất do bất đồng quan điểm nên vợ chồng anh chị thường xuyên cự cãi. Anh T nghi ngờ chị Q có quan hệ bất chính với người khác nên mỗi lần có uống rượu thì anh lại nhắc lại chuyện cũ, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Về vấn đề kinh tế, anh T cho rằng anh đi làm vẫn lo cho con nhưng do chị Q chi tiêu không hợp lý nên khoản tiền còn dư anh gửi lại chỗ làm để tiết kiệm cho con sau này nên chị Q hiểu nhầm và cho rằng anh không lo cho con. Từ tháng 8/2023, vợ, chồng đã ly thân, anh T nhiều lần tạo điều kiện hàn gắn nhưng do bản thân nóng giận nên mỗi lần nói chuyện vợ chồng đều cự cãi. Như vậy, những mâu thuẫn giữa chị Q và anh T là có thật, cả hai có thời gian và điều kiện hàn gắn tình cảm nhưng đều không thành. Tại phiên tòa, chị Q cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị Q là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung: Chị Q và anh T có hai con chung là cháu Lê Nguyễn Minh N, sinh ngày 08/01/2013 và cháu Lê D, sinh ngày 07/10/2014. Chị Q yêu cầu được nuôi dưỡng hai con. Tại phiên Tòa, anh T yêu cầu nuôi dưỡng một trong hai con chung. Xét thấy, từ khi chị Q và anh T sống ly thân cho đến nay, các con chung do chị Q chăm sóc, nuôi dưỡng, cuộc sống đã ổn định, các con chung có nguyện vọng sống với mẹ. Việc giao cho anh T nuôi dưỡng một con chung sẽ làm xáo trộn cuộc sống ổn định hiện tại, chia rẻ tình cảm anh em của hai cháu và không phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Do đó, xét yêu cầu trực tiếp nuôi hai con chung của chị Q là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi anh T đồng ý cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.000.000 đồng/cháu/tháng, chị Q đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng tính từ ngày 14/5/2024.

[3] Về tài sản chung: chị Q và anh T khai tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về nợ chung: chị Q và anh T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng: chị Q, anh T phải nộp theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q.

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Lê Thanh T.
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn Minh N, sinh ngày 08/01/2013 và Lê D, sinh ngày 07/10/2014 cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
  3. Anh Lê Thanh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng/cháu/tháng cho đến khi cháu Lê Nguyễn Minh N và Lê D đủ 18 tuổi. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng được tính từ ngày 14/5/2024.

    Anh Lê Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  4. Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị Q và anh Lê Thanh T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  5. Nợ chung: chị Nguyễn Thị Q và anh Lê Thanh T khai không có nên không xem xét.
  6. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
  7. Chị Nguyễn Thị Q phải nộp số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004910 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

    Anh Lê Thanh T phải nộp án phí cấp dưỡng số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm.

  8. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã Hưng Nhượng, (Giồng Trôm, Bến Tre);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Phượng Tường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Q yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger