Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 13/6/2024

Về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Cao Quốc Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Phương Lan

Ông Nguyễn Văn Đoạt

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký TAND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn đất tham phiên tòa: Không.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 679/2023/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QÐST - HNGĐ, ngày 25/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QÐST-HNGĐ ngày 17/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1984 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: tổ 1, ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K.

Bị đơn: Anh Lê Văn V, sinh năm 1975 (Vắng mặt).

Địa chỉ: tổ 1, ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Lê Văn V tự tìm hiểu yêu thương nhau, sau đó được hai bên gia đình đồng ý tổ chức đám cưới vào năm 2005, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14/10/2005. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh V càng ngày càng vô tâm không chăm lo, quan tâm đến vợ con và không chịu làm ăn, chị T đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh V vẫn không thay đổi nên hiện nay chị T và anh V đang sống ly thân với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được. Do đó, chị Trần Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn V.

Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Lê Văn V có 02 người con chung tên Lê Trọng P, sinh ngày 24/02/2006 và Lê Quốc Đ, sinh ngày 15/6/2011. Hiện đang ở cùng chị T. Sau khi ly hôn chị Trần Thị T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Lê Quốc Đ đến tuổi trưởng thành. Riêng con chung tên Lê Trọng P đã trưởng thành nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị Trần Thị T xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Trần Thị T không có nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Văn V trình bày như sau. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định cho anh Lê Văn V nhưng anh V vẫn vắng mặt, do đó không có lời khai của anh Lê Văn V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định vụ án này như sau:

[1] Về thẩm quyền: Theo nội dung đơn xin ly hôn của chị Trần Thị T thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp Số 8, xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất nên quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.

[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Lê Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Lê Văn V là vợ chồng hợp pháp do đã được UBND xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14/10/2005. Điều đó phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn của chị T và anh V mà chị T đã giao nộp tại hồ sơ vụ án. Do dó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Quá trình chung sống giữa chị Trần Thị T và anh Lê Văn V phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh V càng ngày càng vô tâm không chăm lo, quan tâm đến vợ con và không chịu làm ăn, chị T đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh V vẫn không thay đổi nên hiện nay chị T và anh V đang sống ly thân với nhau, mỗi người có cuộc sống riêng và không quan tâm hay hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh V để tham gia các buổi làm việc, hòa giải, phiên tòa nhưng anh V đều vắng mặt không có lý do và không có lời khai của anh V. Điều đó chứng tỏ anh V không có thiện chí làm việc, gặp gỡ nguyên đơn, không có giải pháp hợp lý nhằm khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ; trong khi đó chị T xác định không còn tình cảm, không muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với anh V và kiên quyết xin ly hôn. Vì vậy, đủ cơ sở khẳng định tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị T ly hôn anh V theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.

[3.2] Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Lê Văn V có 02 người con chung tên Lê Trọng P, sinh ngày 24/02/2006 và Lê Quốc Đ, sinh ngày 15/6/2011, hiện nay đang ở với chị T. Chị Trần Thị T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Lê Quốc Đ đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử thấy rằng cháu Đạt từ trước đến nay đều sống với chị T, do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi chị và anh V sống ly thân với nhau. Đồng thời, tại bản tự khai ngày 24/4/2024 cháu Đạt có nguyện vọng được ở với mẹ (chị T) khi cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T. Đối với người con chung tên Lê Trọng P đã trưởng thành, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị T không yêu cầu anh Lê Văn V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.4] Về tài sản chung: Chị Trần Thị T xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.5] Về nợ chung: Chị Trần Thị T xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.6] Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Trần Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 277, Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị T ly hôn với anh Lê Văn V.
  2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Tâm được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Lê Quốc Đ, sinh ngày 15/6/2011 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Riêng con chung tên Lê Trọng P, sinh ngày 24/02/2006 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Lê Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lê Văn V có quyền được thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004066 ngày 11/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Theo đó chị Trần Thị T không phải nộp thêm.

5/. Quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TA tỉnh Kiên Giang;
  • - VKS nhân dân huyện Hòn Đất;
  • - UBND xã Sơn Kiên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Quốc Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1984 . Địa chỉ: tổ 1, ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K. Bị đơn: Anh Lê Văn V, sinh năm 1975 Địa chỉ: tổ 1, ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger