|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST Ngày 13 – 5 – 2024 V/v tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Thanh Tuấn.
Bà Nguyễn Bé Sáu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vui – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Bà Trần Bích Trâm – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 và 13 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 529/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Tiêu Văn N, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1985 (có mặt tại phiên tòa ngày 03/5, vắng mặt ngày 13/5).
Địa chỉ cư trú: Số I T, Khóm E, Phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M (Mỹ), sinh năm 1974 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Minh P, sinh năm 1977 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1960 (vắng mặt).
- Bà Cao Thùy D, sinh năm 1982 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn T (vắng mặt).
- Bà Lê Thị Đ (vắng mặt).
- Bà Tạ Thị Q, sinh năm 1963 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Bà Võ Thị X, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/11/2020 và các lời khai tại Tòa án, ông Tiêu Văn N (nguyên đơn) trình bày:
Tại Quyết định số 140/2020/QÐST-HNGĐ ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước về việc công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Tiêu Văn N và bà Nguyễn Thị M. Về tài sản chung và nợ chung ông N và bà M tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng sau đó do không tự thỏa thuận được nên xảy ra tranh chấp. Nay ông N yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung như sau:
- Về tài sản chung:
- + Phần đất nuôi trồng thủy sản có diện tích 10 công tầm lớn (tầm 03m) tọa lạc tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau do ông và bà M đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng, với diện tích được cấp là 831,1 m² và 12.066,6 m², tại thửa số 363, 88, tờ bản đồ số 7. Phần đất này ông N và bà M đã cầm cố cho ông Nguyễn Minh P và bà Cao Thùy D số tiền 600.000.000 đồng. Ông N yêu cầu nhận phần đất, nhà và trả cho bà M ½ giá trị.
- + Phần đất nuôi trồng thủy sản có diện tích 06 công tầm lớn (tầm 03m) tọa lạc tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau do ông N và bà M nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn P1 và hiện nay do ông P1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng. Trên phần đất này có 01 căn nhà cấp 4 ngang 05m dài 15m, 02 căn nhà cấp 4 liền kề ngang 08m dài 15m, 01 kiốt bán hàng hóa và nhiều tài sản, phần đất này do bà M canh tác, sử dụng. Ông N yêu cầu chia đôi, ông được nhận ½ giá trị đất và giao đất cho bà M, không yêu cầu chia giá trị nhà và tài sản trên đất.
- + Số tiền vốn và hàng hóa khi ly hôn ông N giao lại cho bà M quản lý là 200.000.000 đồng. Ông N yêu cầu chia đôi, bà M có trách nhiệm trả cho ông số tiền 100.000.000 đồng.
- + Vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Lê Thị Đ nợ ông bà số tiền 500.000.000 đồng, yêu cầu buộc ông T và bà Đ trả số tiền này để ông bà chia đôi.
- Về nợ chung: Nợ vợ chồng ông Nguyễn Minh P và bà Cao Thùy D số tiền cố đất 600.000.000 đồng, ông yêu cầu chia đôi mỗi người có trách nhiệm trả số tiền 300.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị M (bị đơn) trình bày:
Bà và ông N đã ly hôn và được Tòa án công nhận thuận tình ly hôn tại Quyết định số 140/2020/QÐST-HNGĐ ngày 29/6/2020. Tuy nhiên, khi vợ chồng ly hôn thì không có yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung để tự thỏa thuận.
- Về tài sản chung: Bà và ông N có 02 phần đất như ông N trình bày là đúng; về tiền và giá trị hàng hóa ông N giao lại cho bà khoảng 10.000.000 đồng; vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Đ có nợ bà và ông N số tiền 100.000.000 đồng.
- Về nợ chung: Bà và ông N nợ vợ chồng ông Nguyễn Minh P và bà Cao Thùy D số tiền cố đất 600.000.000 đồng; nợ bà Võ Thị X số tiền 40.000.000 đồng; nợ bà Tạ Thị Q số tiền 66.000.000 đồng; nợ ông Nguyễn Văn B số tiền 50.000.000 đồng; nợ ông Nguyễn Văn Đ1 số tiền 100.000.000 đồng; nợ ông Nguyễn Văn L số tiền 70.000.000 đồng; nợ bà Cao Cẩm H số tiền 90.000.000 đồng; nợ bà Nguyễn Thị H1 số tiền 49.000.000 đồng; nợ số tiền hụi chết phải đóng là 292.000.000 đồng, nợ tiền tạp hóa (không nhớ tên) số tiền 18.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông N yêu cầu chia giá trị tài sản và nợ bà không đồng ý, vì sau khi Tòa án ra quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn thì giữa bà và ông N có thỏa thuận với nhau về việc phân chia tài sản chung và nợ, cụ thể: Bà có trách nhiệm đưa cho ông N số tiền 600.000.000 đồng, ông N sẽ giao cho bà quản lý toàn bộ số tài sản chung và bà có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ chung. Trên thực tế thì bà đã đưa cho ông N được số tiền 500.000.000 đồng, bà chỉ còn thiếu ông N số tiền 100.000.000 đồng. Nay bà chỉ đồng ý đưa cho ông N số tiền 100.000.000 đồng là đã thực hiện xong việc hai bên thỏa thuận phân chia tài sản chung và nợ. Đối với việc cầm cố đất cho vợ chồng ông P và chuyển nhượng đất của ông P1 không có tranh chấp nên không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Ông Nguyễn Minh P và bà Cao Thùy D trình bày: Vào ngày 29/6/2020 ông bà có làm hợp đồng nhận cầm cố phần đất nuôi trồng thủy sản tại thửa số 88, 363 tờ bản đồ số 7, với diện tích 12.897,7 m², tọa lạc tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau, giá cầm cố 600.000.000 đồng, thời hạn 05 năm. Hiện nay, thời hạn hợp đồng vẫn còn nên ông bà xác định không có yêu cầu tranh chấp gì trong vụ án này.
Tại đơn xin vắng mặt đề ngày 13/3/2023 ông Nguyễn Văn P1 trình bày: Vào năm 2006, ông có chuyển nhượng cho ông N và bà M phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích 04 công tầm lớn, giá chuyển nhượng 60 chỉ vàng 24k, tọa lạc tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Hiện nay phần đất này chưa chuyển tên quyền sử dụng nhưng ông đã bàn giao đất cho ông N và bà M canh tác, sử dụng từ năm 2006 đến nay, giữa ông với ông N và bà M không có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông không có yêu cầu gì trong vụ án này nên yêu cầu giải quyết vắng mặt ông.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ông N xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung đối với số tiền vốn và hàng hóa 200.000.000 đồng và số tiền 500.000.000 đồng mà ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Đ nợ ông bà, không yêu cầu Tòa án giải quyết; thay đổi một phần yêu cầu đối với tài sản là đất thì yêu cầu được chia ½ giá trị bằng tiền theo bảng chứng thư thẩm định giá ngày 29/7/2022, đất nhà giao cho bà M sử dụng, các nội dung khác vẫn bảo lưu quan điểm đã trình bà, không thừa nhận có nợ ai khác ngoài vợ chồng ông P.
Bà M không thống nhất yêu cầu chia tài sản chung và nợ của ông N, lý do giữa bà và ông N đã có sự thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung và nợ, bà đưa cho ông N số tiền 600.000.000 đồng, bà sẽ nhận toàn bộ tài sản chung và nợ, bà đã đưa được cho ông N số tiền 500.000.000 đồng, chỉ còn thiếu lại 100.000.000 đồng nên đồng ý đưa cho ông N số tiền 100.000.000 đồng. Đối với các khoản nợ thì bà chỉ nêu để chứng minh vợ chồng có nợ, có thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung và nợ, bà là người chịu trách nhiệm trả toàn bộ số nợ trên, hiện nay đã trả được một số người. Đối với các khoản nợ bà nêu thì bà không có yêu cầu gì trong vụ án này nên không cung cấp địa chỉ cụ thể.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tiêu Văn N. Buộc bà Nguyễn Thị M phải đưa lại cho ông Tiêu Văn N số tiền 300.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị M được nhận phần đất và nhà có vị trí từ M1 đến M14, với diện tích theo đo đạc thực tế 12.644,3 m², thửa số 88, 363, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Văn T, bà Lê Thị Đ và bà Tạ Thị Q tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh P và bà Cao Thùy D, ông Nguyễn Văn P1 và bà Võ Thị X có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Tranh chấp giữa ông Tiêu Văn N với bà Nguyễn Thị M là tranh chấp hôn nhân và gia đình về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Nguyễn Thị M có địa chỉ cư trú tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông N và ông N xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chia đôi số tiền vốn và hàng hóa 200.000.000 đồng, ông N nhận số tiền 100.000.000 đồng và chia đôi số tiền nợ 500.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Đ, ông N nhận số tiền 250.000.000 đồng. Xét thấy, việc người đại diện theo ủy quyền của ông N và ông N xin rút lại một phần nội dung yêu cầu khởi kiện là tự nguyện phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu người đại diện theo ủy quyền của ông N và ông N đã rút.
[3.2] Về tài sản chung và nợ:
Về tài sản chung:
Thứ nhất, phần đất nuôi trồng thủy sản có diện tích 06 công tầm lớn (tầm 03m) tọa lạc tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau do ông N và bà M nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn P1 và hiện nay do ông P1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng. Theo đo đạc thực tế phần đất có diện tích 4.419,4 m². Trên phần đất có 02 căn nhà có kết cấu chịu lực bằng bê tông diện tích 131,7 m² và 52,7 m²; 01 căn nhà có kết cấu chịu lực bằng gỗ diện tích 9,9 m². Ông N yêu cầu được chia đôi, ông N nhận ½ giá trị đất và giao đất cho bà M, ông N không yêu cầu chia giá trị nhà và tài sản trên đất. Hiện nay, ông N, bà M và ông P1 không yêu cầu Tòa án xem xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên. Ông N yêu cầu chia đôi, nhận ½ giá trị đất, giao phần đất cho bà M sử dụng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử không công nhận, vì phần đất hiện nay ông N và bà M chưa đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không xác định là tài sản chung của vợ chồng. Trong vụ án này, ông N, bà M và ông P1 không có tranh chấp đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, nếu có tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
Thứ hai, phần đất ông N và bà M đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng, với diện tích được cấp là 831,1 m² và 12.066,6 m², tại thửa số 363, 88, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Theo đo đạc thực tế phần đất có diện tích 12.644,3 m² và 01 căn nhà có kết cấu chịu lực bằng gỗ, ông N yêu cầu nhận ½ giá trị đất và giao đất, nhà cho bà M.
Về nợ chung: Ông N và bà M nợ vợ chồng ông Nguyễn Minh P và bà Cao Thùy D số tiền cố đất là 600.000.000 đồng, ông N yêu cầu chia đôi mỗi người có trách nhiệm trả số tiền 300.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, ông N và bà M thống nhất số tài sản chung và số nợ trên. Tuy nhiên, đối với yêu cầu khởi kiện của ông N thì bà M không đồng ý, vì giữa bà M và ông N sau khi ly hôn đã có sự thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung và nợ, cụ thể thể hiện tại “Tờ cam kết” ngày 09/5/2020 âl giữa ông N và bà M thỏa thuận bà M đưa cho ông N số tiền 600.000.000 đồng, bà M sẽ nhận toàn bộ tài sản chung và nợ, bà M đã đưa cho ông N số tiền 500.000.000 đồng, chỉ còn thiếu lại 100.000.000 đồng nên chỉ đồng ý đưa cho ông N số tiền 100.000.000 đồng. Nhận thấy, ông N và bà M đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước ra quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn vào ngày 29/6/2020. Sau đó, ông N và bà M đều thừa nhận có thỏa thuận về việc phân chia tài sản, bà M nhận toàn bộ tài sản chung và nợ chung, bà M có trách nhiệm giao lại cho ông N số tiền 600.000.000 đồng nhưng do bà M không thực hiện, chưa đưa tiền cho ông N nên ông N mới làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn. Bà M thì cho rằng đã đưa cho ông N số tiền 500.000.000 đồng, chỉ còn thiếu lại số tiền 100.000.000 đồng. Thực tế, ông N và bà M có lập hợp đồng cố đất vào ngày 29/6/2020 dl cho ông P và bà D, số tiền cố đất là 600.000.000 đồng, ông N và bà M đã nhận đủ tiền, sau khi nhận đủ tiền có trả nợ Ngân hàng số tiền 200.000.000 đồng, trả tiền thuê đất cho ông P và bà D số tiền 50.000.000 đồng. Do đó, số tiền còn dư lại là 350.000.000 đồng. Mặc dù “Tờ cam kết” ngày 09/5/2020 âl, do bà M viết, ông N chưa ký tên nhưng ông N vẫn thừa nhận có việc thỏa thuận này, do bà M chưa đưa cho ông số tiền 600.000.000 đồng như đã thỏa thuận nên ông N mới khởi kiện bà M, bà M cho rằng đã đưa cho ông N số tiền 500.000.000 đồng, chỉ còn thiếu lại 100.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh. Căn cứ vào các tài liệu do Tòa án thu thập được xác định, sau khi ông P và bà D đưa số tiền cố đất 600.000.000 đồng, sau khi trả tiền Ngân hàng, trả tiền thuê đất thì số tiền còn dư lại là 350.000.000 đồng. Tại biên bản làm việc với bà Ngô Thị N2 và bà Nguyễn Thị H2 đều thể hiện nội dung “Bà N2 và bà H2 đều có chứng kiến bà M giao tiền cho ông N nhưng không biết số tiền cụ thể bao nhiêu”. Ngoài ra, theo lời trình bày của anh Tiêu Văn T1 Em là con ruột của ông N và bà M, sau khi ông N nhận tiền từ bà M đưa thì ông N có kêu anh chở ông N ra chợ C mua vàng với trị giá từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng và có tặng cho anh T1 Em số vàng trị giá khoảng 50.000.000 đồng, sau đó anh Toản E chở ông N đến Ngân hàng N3 – chi nhánh huyện C gửi số tiền 100.000.000 đồng được Ngân hàng N3 – chi nhánh huyện C xác nhận tại Công văn số 63 ngày 25/4/2024 vào ngày 29/6/2020 thì ông N có gửi tiền tiết kiệm số tiền 100.000.000 đồng. Ngày 29/6/2020 dl ông N gửi tiền Ngân hàng đúng vào ngày ông N và bà M cố đất cho ông P và bà D, cũng đúng vào ngày ông N và bà M làm “Tờ cam kết” (tức nhằm ngày âl 09/5/2020). Hơn nửa, trong thời gian này ông N không có nguồn thu nhập nào khác, ông N cho rằng số tiền gửi Ngân hàng là của người em ruột tên Tiêu Văn M1 nhờ gửi dùm là không có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ nếu nhờ gửi dùm thì chủ tài khoản gửi tiền tiết kiệm phải đứng tên Tiêu Văn M1 chứ không phải đứng tên ông N. Do đó, có cơ sở xác định lời trình bày của anh Toản E là đúng và thực tế ông N có nhận tiền từ bà M theo như hai bên đã thỏa thuận với nhau. Ông N cho rằng, không có nhận tiền từ bà M nhưng qua phân tích trên xác định ông N có nhận tiền từ bà M, bà M thì cho rằng ông N đã nhận số tiền 500.000.000 đồng, chỉ còn thiếu lại số tiền 100.000.000 đồng. Nhận thấy, số tiền còn dư lại sau khi cố đất là 350.000.000 đồng nên bà M đã đưa cho ông N số tiền 300.000.000 đồng cộng với số tiền trả Ngân hàng 200.000.000 đồng nên bà M cho rằng còn nợ lại ông N số tiền 100.000.000 đồng. Thực tế theo như thỏa thuận thì ông N nhận số tiền 600.000.000 đồng, bà M được nhận toàn bộ tài sản chung và nợ chung cho nên số tiền nợ Ngân hàng 200.000.000 đồng bà M phải chịu. Do đó, có căn cứ xác định bà M đã giao cho ông N số tiền 300.000.000 đồng. Mặt khác, theo như thỏa thuận thì toàn bộ các khoản nợ mà trước đây ông N và bà M nợ sẽ do bà M trực tiếp có nghĩa vụ trả cho các chủ nợ, Tòa án đã tiến hành xác minh thì đúng như bà M trình bày, các chủ nợ không có yêu cầu gì trong vụ án này, vì giữa ông N và bà M đã thỏa thuận việc trả nợ là do bà M chịu trách nhiệm trả nợ và bà M đã đứng ra trả nợ nên không ai yêu cầu gì cụ thể như: Bà Nguyễn Cẩm H3, ông Nguyễn Văn B, bà Võ Thị X, ông Bùi Văn T2, ông Nguyễn Giải P2. Điều này chứng minh lời trình bày của bà M là đúng, có sự việc thỏa thuận ông N nhận tiền, bà M nhận toàn bộ tài sản chung và nợ chung.
Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông N. Công nhận sự thỏa thuận tại “Tờ cam kết” ngày 09/5/2020 âl giữa ông N và bà M. Buộc bà M phải có nghĩa vụ giao lại cho ông N số tiền 300.000.000 đồng. Ngoài ra, bà M còn phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với khoản tiền phải thanh toán nếu chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bà Nguyễn Thị M được nhận phần đất và nhà có vị trí từ M1 đến M14, với diện tích theo đo đạc thực tế 12.644,3 m², thửa số 88, 363, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Bà Nguyễn Thị M có quyền liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc chuyển tên theo quy định pháp luật.
[4] Theo nhận định tại mục [3.2] đối với phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 4.419,4 m², do ông P1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng, trong vụ án này, ông N, bà M và ông P1 không có tranh chấp đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận tại “Tờ cam kết” ngày 09/5/2020 âl giữa ông N và bà M. Buộc bà M phải có nghĩa vụ giao lại cho ông N số tiền 300.000.000 đồng. Bà M được nhận toàn bộ tài sản chung và nợ chung. Vì vậy, đối với hợp đồng chuyển nhượng trên ông N không còn quyền lợi gì liên quan, bà M được đứng tên quyền sử dụng đất, nếu giữa bà M với ông P1 không thỏa thuận được với nhau thì bà M có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
[5] Trong vụ án này, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận tại “Tờ cam kết” ngày 09/5/2020 âl giữa ông N và bà M. Bà M được nhận toàn bộ tài sản chung và nợ chung. Bà M cung cấp họ tên, địa chỉ mốt số chủ nợ và Tòa án đã tiến hành xác minh bà Nguyễn Cẩm H3, ông Nguyễn Văn B không có yêu cầu bà M trả nợ, không có yêu cầu gì trong vụ án này; đối với bà Võ Thị X, ông Bùi Văn T2, ông Nguyễn Giải P2 thì bà M đã trả nợ xong nên không có yêu cầu gì trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp, giữa bà M với các chủ nợ không thỏa thuận được với nhau thì có quyền khởi kiện bà M thành vụ kiện khác theo quy định của pháp luật, ông N không còn liên quan gì đến các khoản nợ chung này.
[6] Đối với hợp đồng cầm cố đất giữa ông P và bà D với ông N và bà M, ông N yêu cầu chia đôi nợ là số tiền cố đất 600.000.000 đồng, phía ông P, bà D và bà M không ai có yêu cầu tranh chấp gì trong vụ án này và theo như nhận định tại mục [3.2] thì không chấp nhận yêu cầu của ông N, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận tại “Tờ cam kết” ngày 09/5/2020 âl giữa ông N và bà M. Bà M được nhận toàn bộ tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Tuy nhiên, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì khoản nợ này do bà M chịu trách nhiệm, ông N không còn liên quan.
[7] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về chi phí đo đạc và định giá:
Chi phí đo đạc và định giá tổng số tiền 35.265.720 đồng, do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông N nên ông N và bà M mỗi người phải chịu ½ với số tiền là 17.632.860 đồng. Ông N đã dự nộp xong nên buộc bà M phải trả lại cho ông N số tiền 17.632.860 đồng.
[9] Về án phí: Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Bà M phải chịu án phí dân sự có giá ngạch 5% đối với số tiền 300.000.000 đồng phải trả cho ông N là 15.000.000 đồng.
- - Ông N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, số tiền đã dự nộp tiền tạm ứng án phí được nhận lại.
[10] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 59, 62 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 468 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tiêu Văn N.
[1] Về nội dung:
Công nhận sự thỏa thuận tại “Tờ cam kết” ngày 09/5/2020 âl giữa ông Tiêu Văn N và bà Nguyễn Thị M.
Buộc bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ trả cho ông Tiêu Văn N số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).
Bà Nguyễn Thị M được nhận phần đất và nhà có vị trí từ M1 đến M14, với diện tích theo đo đạc thực tế 12.644,3 m², thửa số 88, 363, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
(Kèm theo trích đo hiện trạng ngày 05/7/2022 của Công ty TNHH MTV T3).
Bà Nguyễn Thị M có quyền liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc chuyển tên theo quy định pháp luật.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Tiêu Văn N, về việc yêu cầu nhận ½ giá trị đất đối với phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 12.644,3 m², đất tọa lạc tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau và yêu cầu chia đôi nợ là số tiền cố đất 600.000.000 đồng.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Tiêu Văn N, về việc yêu cầu chia đôi số tiền vốn và hàng hóa 200.000.000 đồng, ông N nhận số tiền 100.000.000 đồng và yêu cầu chia đôi số tiền nợ 500.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Đ, ông N nhận số tiền 250.000.000 đồng.
[2] Về chi phí đo đạc và định giá:
Buộc bà Nguyễn Thị M phải trả chi phí đo đạc và định giá cho ông Tiêu Văn N số tiền 17.632.860 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm ba mươi hai nghìn tám trăm sáu mươi đồng).
[3] Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
[4] Về án phí:
Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 15.000.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Tiêu Văn N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho ông Tiêu Văn N 8.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005902 ngày 18/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hiền |
Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tiêu Văn N
