Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HS-PT

Ngày 12 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Anh

Bà Thái Thị Hồng Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 84/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn S, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn S, tên gọi khác: Không; giới tính N; sinh ngày 01 tháng 04 năm 1997 tại tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: Xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: Xóm V, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc Kinh; tôn giáo Thiên chúa giáo; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1957 và bà Chu Thị H, sinh năm 1967; vợ Lưu Thị Mỵ N1, sinh năm 2000; có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 22/11/2023 đến 01/12/2023. Hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:Nguyễn Thị N2, sinh năm 1974. Địa chỉ xóm V, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa;

Ngoài ra, trong vụ án còn có một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong các ngày từ 14/10/2023 đến ngày 21/11/2023, tại xóm V, xã H, huyện Y, Nguyễn Văn S đã thực hiện liên tục nhiều lần nhiều hành vi trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị N2 tổng giá trị là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng), cụ thể:

Ngày 14/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Ngày 16/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Ngày 17/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Ngày 19/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 20/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Ngày 21/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Ngày 22/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Ngày 23/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Ngày 24/10/2023 Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Ngày 25/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 từ số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Ngày 26/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 27/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Ngày 28/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 29/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 30/10/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 01/11/2023 ,Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 02/11/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 04/11/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 05/11/2023 Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 06/11/2023 ,Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Ngày 08/11/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiên 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 09/11/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 13/11/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Ngày 17/11/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Ngày 18/11/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 tổng số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Cụ thể:

- Vào khoảng 06 giờ 10 phút ngày 18/10/2023 S vào phòng ngủ của bà Nguyễn Thị N2 dùng tay dơ góc đệm phía trên đầu giường lấy số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

- Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày 18/10/2023 S vào phòng ngủ của bà Nguyễn Thị N2 dùng tay dơ góc đệm phía trên đầu giường lấy số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Ngày 20/11/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Ngày 21/11/2023, Nguyễn Văn S lấy trộm của bà Nguyễn Thị N2 số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Sau các lần lấy trộm tiền của bà Nguyễn Thị N2, thì Nguyễn Văn S đã nhờ chị Đặng Thị H1, sinh năm 2002, trú tại xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; chị Phạm Thị H2, sinh năm 1998, trú tại xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; chị Cao Thị O, sinh năm 1991; anh Nguyễn Khắc P, sinh năm 1982, đều trú tại xóm I, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; anh Vũ Văn T, sinh năm 1988, trú tại xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; chị Tăng Thị Thu T1, sinh năm 2000, trú tại xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An và anh Lê Huy T2, sinh năm 1990, trú tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, là người làm nghề chuyển tiền dịch vụ và người quen biết của S, dùng tài khoản trên áp của điện thoại để chuyển tiền vào tài khoản cá nhân 19037626369016, ngân hàng T3 của Nguyễn Văn S, số tiền này S đã dùng tiêu xài hết vào mục đích cá nhân.

Ngày 21/11/2023, sau khi phát hiện bị mất tiền, bà Nguyễn Thị N2 đã làm đơn trình báo đến Cơ quan Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An.

Ngày 22/11/2023, nhận thức được hành vi phạm tội của mình, nên Nguyễn Văn S đã đến Công an huyện Y đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Nguyễn Thị N2 xác nhận và khẳng định số tiền bị mất trộm là tài sản riêng của mình và bà N2 đã nhận lại toàn bộ số tiền và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm.

Với nội dung trên, tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 15 (Mười lăm) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 22/11/2023 đến ngày 01/12/2023, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra bản án còn quyết định xử lý vật chứng, buộc án phí, tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ngày 01 tháng 4 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn S kháng cáo có nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người đúng tội. Tuy nhiên bị cáo thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 15 tháng tù giam là quá nặng, hiện bị cáo còn có con nhỏ một tuổi rưỡi, cha mẹ tuổi đã cao và thường xuyên đau ốm, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có ông bà nội và bố bị cáo là người có công với cách mạng. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm lo cho con nhỏ và gia đình.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn S giữ nguyên nội dung kháng cáo xin cấp phúc thẩm cho hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S; sửa một phần quyết định của Bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Nguyễn Văn S được hưởng án treo. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn S không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị báo được cải tạo tại địa phương để lao động khắc phục hoàn cảnh khó khăn của gia đình

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn S, thấy rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn S khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã xét xử, có đủ căn cứ kết luận: Trong các ngày từ ngày 14/10/2023 đến ngày 21/11/2023, bị cáo Nguyễn Văn S đã thực hiện 28 hành vi trộm cắp tài sản cảu bà Nguyễn Thị N2 là mẹ vợ của bị cáo tổng số tiền 45.000.000 đồng; trong đó có 8 lần bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đủ định lượng cấu thành tội phạm độc lập với tổng số tiền 21.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn S, thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; hoàn cảnh bị cáo khó khăn; sau khi phạm tội nhận thức được hành vi của mình đã tự đầu thú và trả lại đầy đủ tài sản cho người bị hại, người bị hại có đơn đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo; trong quá trình sinh sống tại địa phương chấp hành nghiêm các quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm các tình tiết mới, gia đình có ông, bà nội tham gia dân công hỏa tuyến được Bộ tư lệnh Quân khu 4 chứng nhận và có bố là ông Nguyễn Văn V được Thủ tướng Chính phủ tặng thưởng Huy hiệu vì nghĩa vụ Quốc tế và tại phiên tòa phúc thẩm người bị hại (bà Nguyễn Thị N2 là mẹ vợ của bị cáo) tiếp tục có đơn đề nghị giảm nhẹ và xin cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có điều kiện khắc phục hoàn cảnh gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, mặc dù bị cáo Nguyễn Văn S có nhiều hành vi phạm tội nhưng các lần phạm tội đều là tội ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo thì có đủ điều kiện cho bị cáo Nguyễn Văn S được hưởng án treo. Do đó, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa là phù hợp thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[3] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn S kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S; sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Nguyễn Văn S được hưởng án treo.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng; thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 12/8/2024).

    Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Yên Thành;
  • - VKSND, CA huyện Yên Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thành;
  • - Phòng PV06, CA tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Hợp Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Tòa Hình sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Phấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-PT ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 82/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S, Phạm tội " Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger