Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HSST

Ngày: 11/9/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Quảng

Bà Tô Thị Hương.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phí Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 74/2024/TLST- HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh ngày 26/3/1980.

Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị V; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không. Nhân thân: Bản án số 27/2016/HSST ngày 28/4/2016, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 13/10/2017 bị cáo chấp hành xong Bản án. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/5/2024 đến ngày 06/6/2024 chuyển tạm giam. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

+ Người làm chứng:

  • Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1967 (Vắng mặt)

  • Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

  • Anh Bùi Hoài B, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

  • Đều cư trú: Thôn Á, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 12 giờ ngày 31/5/2024, Nguyễn Văn Q đi bộ từ nhà ra đường, sau đó xin đi nhờ xe của một người không quen biết đến khu vực chợ xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình mục đích tìm mua ma túy. Tại đây, Q gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, nghi ngờ người này có ma túy bán nên hỏi mua 200.000 đồng ma túy loại H, người này nhận tiền rồi đưa cho Q 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 gói ma tuý loại Heroin được gói bằng giấy tráng kim màu trắng. Q nhận và cầm ở tay trái rồi đi về, khi đi đến đoạn đường bê tông liên thôn khu vực gần cổng chợ xã N thuộc địa phận thôn Á, xã N, huyện T thì bị Công an huyện T phát hiện. Quá trình làm việc Q đã tự giác giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 gói ma tuý và khai nhận đây là ma túy của Q mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân. Công an huyện T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ và biên bản niêm phong vật chứng theo quy định. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Q, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không phát hiện thu giữ gì.

Tại Bản kết luận giám định số 782/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1550 gam.

Tại bản cáo trạng số 81/CT-VKSTH ngày 08/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng số 81 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù đến 02 (H1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/5/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại là 0,1260 gam Heroine được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 782/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên về bản luận tội.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và những người làm chứng không khiếu nại hay có ý kiến gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào trưa ngày 31/5/2024, mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:

  • Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T, tỉnh Thái Bình lập ngày 31/5/2024 tại trụ sở Công an xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình;

  • Biên bản tạm giữ, đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T, tỉnh Thái Bình lập ngày 31/5/2024 tại trụ sở Công an xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình;

  • Bản Kết luận giám định số 782/KL-KTHS ngày 5/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T;

  • Biên bản ghi lời khai của người làm chứng là ông Hoàng Văn C và anh Bùi Hoài B.

Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 31/5/2024 tại đoạn đường bê tông liên thôn khu vực gần cổng chợ xã N thuộc địa phận thôn Á, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình, Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn Q đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1550 gam mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)

c) Heroine, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililit;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, làm suy thoái nòi giống con người, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về hình phạt:

[5.1]. Về hình phạt chính: Xét thấy, bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, bản thân bị cáo đã bị xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, lẽ ra sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo phải lấy đó làm bài học cho mình, tu chí cai nghiện nhưng vì thiếu bản lĩnh, nên bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo cần thiết phải xử phạt bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[5.2]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, bản thân là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại là 0,1260 gam Heroine. Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Q khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực chợ xã N huyện T, tỉnh Thái Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xác minh nhưng không xác định được người bán ma túy cho Q nên không có căn cứ để xử lý.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/5/2024.

  3. Về vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại là 0, 1260 gam Heroine được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 782/KL- KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.

    (Vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/8/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải).

  4. Về án phí:

    Bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/9/2024).

Nơi nhận:

  • VKSND huyện Tiền Hải;

  • Công an huyện Tiền Hải;

  • Chi cục THADS huyện Tiền Hải;

  • Bị cáo;

  • Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Chu Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HSST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 82/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Quân phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger