|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 82/2024/HSST Ngày 11 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Vịnh
Ông Dương Kim Sơn
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hà Quý Đôn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Sỹ- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2024/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Hữu H; sinh năm 1987; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Bố đẻ: Trịnh Hữu T, sinh năm 1959; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1964. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ: Trần Thị M, sinh năm 1989. Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 23/12/2011, bị cáo bị Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Báo thông tin giả đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”, bị cáo đã nộp phạt xong ngày 23/02/2012.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” có mặt tại phiên tòa.
-Bị hại: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1963 (đã chết)
Đại diện gia đình bị hại:
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị P theo giấy ủy quyền ngày 21/6/2024: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991(vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-Người làm chứng:
- Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
- Ông Trịnh Đăng Đ, sinh năm 1964 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trịnh Hữu H có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 17/10/2022.
Buổi trưa ngày 14/4/2024, Hiện một mình điều khiển xe ô tô con nhãn hiệu MAZDA, biển kiểm soát 20K-3150 đi từ nhà ra đường liên xã H - Đ để đến xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, khi H điều khiển xe ô tô đi đến gần ngã tư giao nhau giữa đường liên xã T - Đ với đường liên thôn Đ- Đ thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Hiện thấy đoạn đường phía trước vắng người nên không giảm tốc độ mà bấm còi và tiếp tục điều khiển xe đi về phía trước. Khi xe ô tô của Hiện cách ngã tư giao nhau khoảng 07m thì Hiện nhìn thấy phía trước có xe máy điện màu đen do bà Bùi Thị L, sinh năm 1963, trú tại thôn B, xã Đ, huyện L điều khiển đang đi từ đường dân sinh hướng từ thôn Đ ra đường liên xã T - Đ để sang đường liên thôn Đ. Lúc này, do khoảng cách quá gần và xe đang đi nhanh không dừng lại được nên Hiện đánh lái sang phần đường bên trái để tránh xe của bà L thì phần đầu bên phải xe ô tô của Hiện đâm vào bên trái bánh trước xe máy điện của bà L làm bà L ngã xuống đường bị thương tích, còn xe máy điện bị hất văng lên vỉa hè. Sau khi va chạm, H dừng xe lại gọi người đưa bà L đi cấp cứu nhưng do vết thương quá nặng nên bà L đã bị chết.
Ngay sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông nêu trên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường (BL 64-66) khám nghiệm tử thi Bùi Thị L (BL 78-79) và phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành xét nghiệm chất ma túy, kiểm tra nồng độ cồn đối với Trịnh Hữu H. Kết quả xác định: Nồng độ cồn trong hơi thở của Trịnh Hữu H là 0,000mg/l và âm tính với các chất ma túy.
Tiến hành khám nghiệm phương tiện xác định các dấu vết liên quan đến vụ tai nạn, khám nghiệm xe ô tô hiệu MAZDA màu đen, biển kiểm soát 20K -3150 (BL 61-62)và khám nghiệm xe máy điện hiệu YBIKE S600, số khung RL9YMEKL7P2YK1171 (BL 115-116) và tổ chức các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật.
Tại Kết luận giám định tử thi số 4728/KLGĐTT-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết luận: “Nguyên nhân chết của Bùi Thị L do đa chấn thương”.
Tại Kết luận giám định hóa pháp số: 925/PY-XNĐH ngày 25/4/2024 của Viện Pháp y Q, kết luận: “Không tìm thấy E và không tìm thấy các chất ma túy trong máu của Bùi Thị L”.
Tại bản kết luận giám định số 1215/KL- KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết luận:
“1. Dấu vết gãy vỡ, bẹp lõm, mài sát sơn, nhựa, bám dính chất màu đen tại bên phải ba đờ sốc trước, đèn tín hiệu trước bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 20K- 3150 có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 1 đến số 10 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết gãy vỡ, mài sát sơn, cao su, kim loại, bám dính chất màu đen tại bên trái của xe máy điện có số khung RL9YMEKL7P2YK1171 gồm: má lốp bánh trước, ốc trục bánh trước, giảm sóc trước bên trái, bên trái bệ để chân trước, có chiều hướng từ trái sang phải (ảnh số 7 đến số A, số A, số 24 bản ảnh khám phương tiện).
2. Dấu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại tại bên phải của xe máy điện có số khung RL9YMEKL7P2YK1171 gồm: Đầu tay nắm, đầu tay phanh, giá kim loại đầu xe, đầu trục bánh trước, bệ để chân trước, yên xe, để chân sau được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe máy điện có số khung RL9YMEKL7P2YK1171 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường đồng thời tạo nên dấu vết trượt xước ký hiệu số 3 trên mặt đường.
3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 20K- 3150 với xe máy điện có số khung RL9YMEKL7P2YK1171 trên mặt đường tại trước điểm đầu hệ thống dấu vết trượt xước ký hiệu số 3, không xác định được thuộc chiều chuyển động bên phải hay bên trái của tuyến đường liên xã T - Đ (theo hướng xã T đi xã Đ).
4. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.”
Tại Kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: “Tổng giá trị các phần hư hỏng cần thay thế, sửa chữa của xe máy điện màu đen nhãn hiệu YBIKE S600, số khung RL9YMEKL7P2YK1171 là 1.900.000 đồng”.
Ngày 14/4/2024, Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 đĩa CD bên trong có video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông đường bộ do ông Trịnh Đăng Đ giao nộp. Ngày 21/6/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Trịnh Hữu H xem lại đoạn video trên. Kết quả, Hiện xác định bản thân chính là người điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 20K- 3150 đâm vào bà L đi xe máy điện trong đoạn video trên.
Hành vi của Trịnh Hữu H điều khiển xe ô tô tham gia giao thông nhưng không chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đến nơi đường giao nhau gây tai nạn làm bà Bùi Thị L chết, đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 1, khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G.
Khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ, quy định: “1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ”.
Khoản 1 và Khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G, quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
- Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;
- Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận”.
Đối với giấy phép lái xe hạng C của Trịnh Hữu H và bản chính giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển kiểm soát 20K- 3150. Quá trình điều tra xác định Hiện mua xe ô tô biển kiểm soát 20K- 3150 nhưng không làm thủ tục đăng ký sang tên xe và điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 20K- 3150 tham gia giao thông trong khi xe đã hết hạn kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ nên Cơ quan điều tra đã chuyển giấy tờ, tài liệu liên quan trên đến Công an huyện L để xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đối với Hiện.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Trịnh Hữu H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Trịnh Hữu H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Trịnh Hữu H từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Trịnh Hữu H thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý về tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến đề nghị gì.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với đại diện bị hại, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của đại diện bị hại, người làm chứng trong quá trình điều tra tại phiên tòa.
[2] Về căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Các lời khai phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y, bản kết luận định giá tài sản của cơ quan chuyên môn cũng như các tài liệu chứng cứ khác đã được cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 14/4/2024, tại khu vực ngã tư giao nhau giữa đường liên xã T - Đ với đường liên thôn Đ - Đ, thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Trịnh Hữu H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 20K-3150 tham gia giao thông nhưng không chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đến nơi đường giao nhau (vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 1, khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G) nên phần đầu bên phải xe ô tô của Hiện đâm vào bên trái bánh trước xe máy điện màu đen, hiệu YBIKE S600 do bà Bùi Thị L điều khiển. Hậu quả, bà L bị chết.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý do cẩu thả. Bị cáo biết rằng khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải tuân thủ quy định của Luật giao đông đường bộ nhưng vì tự tin vào tay lái của mình, bị cáo điều khiển xe lưu thông khi đi vào ngã tư giao nhau không chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn gây tai nạn làm bà Bùi Thị L chết, đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 1, khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G.
Hành vi của Trịnh Hữu H đủ yếu tố cấu thành của tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hậu quả của vụ án là nghiêm trọng. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình bị hại để khắc phục hậu quả. Đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy: Bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội với lỗi vô ý do cẩu thả. Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn có lỗi một phần của bị hại khi tham gia giao thông đi từ đường không ưu tiên sang đường khi đến nơi đường giao nhau không chú ý quan sát, không chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 1, khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn. Nên HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Về hình phạt bổ sung: Xét vụ án có lỗi hỗn hợp của cả bị cáo và bị hại, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Đến nay đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về vật chứng: Quá trình điều tra xác định xe ô tô nhãn MAZDA, biển kiểm soát 20K- 3150, 01 bản chính giấy chứng nhận đăng ký của xe ô tô biển kiểm soát 20K- 3150 là của Trịnh Hữu H; 01 xe máy điện màu đen là tài sản của bà Bùi Thị L. Ngày 08/8/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại giấy tờ, tài sản trên cho H và trả lại xe máy điện cho anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991 là người đại diện hợp pháp của bà L. HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trịnh Hữu H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện gia đình bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, xử lý án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trịnh Hữu H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Trịnh Hữu H thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trịnh Hữu H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện gia đình bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 82/2024/HSST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 82/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trịnh Hữu H
