TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2023/HS-ST Ngày: 11-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Hoàng Thiên Phúc
- Bà Võ Thị Kim Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Huỳnh Minh T; sinh ngày: 21/4/1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: G đường B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Hữu H và bà: Võ Thị T1; Vợ: Lê Thị Hồng T2; Bị cáo có 04 con, lớn sinh năm: 2007, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Q.
2. Lê Văn H1; sinh năm: 1971 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có; Nơi cư trú: 1124/68 Ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn B (chết) và bà: Lê Thị L (chết); Vợ: Huỳnh Thị Thu T3; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm: 1997, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/10/1983, bị Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. (Không rõ hình thức xử lý do không có hồ sơ lưu). Ngày 29/8/1988, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”, theo Bản án số 163. (Kết quả xác minh, không có hồ sơ lưu về việc chấp hành án xong. Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8 chưa nhận được bản án nêu trên). Ngày 30/6/1990, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và “Cướp tài sản của công dân”, theo Bản án số 311/HSST. (Kết quả xác minh, không có hồ sơ lưu về việc chấp hành án xong. Kết quả xác minh, Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh chưa nhận được bản án nêu trên). Ngày 08/4/1993, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, theo Bản án số 219/HSST. (Kết quả xác minh, không có hồ sơ lưu về việc chấp hành án xong. Kết quả xác minh, Cục Thi hành án dân sự chưa nhận được bản án nêu trên). Ngày 26/11/1999, bị Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định truy nã số 18 về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/4/2002, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 04. Ngày 18/8/2006, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 122/HSST. Ngày 20/01/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 05/HSST. Ngày 26/10/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận T ra thông báo truy tìm Lê Văn H1 số 9515/TB-CATB-TTXH. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Q.
(Các bị cáo có mặt).
- Bị hại: Bà Vũ Thị Hồng A, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: 13.09 Block B1, Chung cư G, số H Đường T, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 04/3/2023, bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Lê Văn H1 được một người tên P (không rõ lai lịch) dùng số điện thoại 0778.332.xxx gọi điện đến đường B, Quận A để cùng đi trộm cắp tài sản. Tại đây, P phân công nhiệm vụ cho cả nhóm như sau: các bị cáo T, H1 có nhiệm vụ che chắn, va chạm xe làm bị hại mất cảnh giác và cản trở người truy đuổi; P móc túi, rạch túi lấy tài sản. P trả công cho bị cáo T và bị cáo H1 mỗi người từ 250.000 đồng đến 500.000 đồng một ngày, các bị cáo T và H1 đồng ý. Sau đó, bị cáo T sử dụng xe máy hiệu Wave mang biển số 52F8-6475, bị cáo H1 sử dụng xe máy mang biển số 59N2-414.97, P sử dụng xe máy hiệu Wave mang biển số 59V1-132.85 cùng nhau đi qua nhiều tuyến đường, tìm kiếm người có tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khoảng 10 giờ 30 cùng ngày, đối tượng P cùng các bị cáo H1, T đi đến hẻm S, đường T, Phường A, Quận A thì phát hiện chị Vũ Thị Hồng  đeo một balo phía sau lưng, ngồi sau xe do anh Huỳnh Hoàng T4 điều khiển đi ngược chiều lại, P và các bị cáo T, H1 liền quay xe đuổi theo. Khi đến trước nhà số G đường T, Phường A Quận A, P điều khiển xe áp sát xe của anh T4, các bị cáo T và H1 chạy sát phía sau xe P che chắn, cản trở không để người khác phát hiện. P dùng lưỡi lam rạch đứt da balô của chị  đang mang trên người, rồi đưa tay vào trong balô lấy chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14. Sau đó, P cùng các bị cáo T và H1 tăng ga chạy ra đường N về Quận H. Cùng lúc này, ông Nguyễn Minh T5 đang đi trên đường chứng kiến sự việc nên cùng với T6 tuần tra Đội 3 Phòng PC02 Công an Thành phố H và Tổ đặc nhiệm Công an quận Q truy đuổi liên tục P, bị cáo T và bị cáo H1. Khi chạy đến gần ngã sáu Nguyễn Tri P1 thì P đưa điện thoại di động vừa chiếm đoạt được cho bị cáo T cất vào túi và cả ba tiếp tục chạy về hướng Quận H. Khi đến trước nhà số G đường H, Phường A, Quận H thì các bị cáo T và H1 bị Tổ tuần tra và anh T5 bắt giữ cùng phương tiện, vật chứng giao Công an P2, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý. Riêng đối tượng P điều khiển xe chạy thoát.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã yêu cầu định giá tài sản. Tại Kết luận định giá tài sản số 383/KL-HĐĐGTS ngày 20/3/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận A1 xác định: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14, màu xanh, hàng chính hãng, phiên bản quốc tế có trị giá là 16.500.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo Huỳnh Minh T và Lê Văn H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo H1, T phù hợp với lời khai của bị hại, người chứng kiến, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản trích xuất camera tại hiện trường ghi lại hình ảnh các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, các bị cáo T và H1 khai không có mối quan hệ gì với P. Các bị cáo chỉ là bạn bè quen biết ngoài xã hội với P và không biết nhân thân, lai lịch của P.
Qua điều tra còn xác định, bị cáo Huỳnh Minh T đã thực hiện hành vi giao cấu với người dưới 16 tuổi, cụ thể như sau: Vào khoảng tháng 9/2006, bị cáo T có tình cảm và quan hệ tình dục với chị Lê Thị Hồng T2, sinh ngày 24/8/1992. Việc quan hệ tình dục giữa hai người là tự nguyện và có con chung là Lê Thị Mộng V, sinh ngày 14/06/2007. Sau đó, bị cáo T đi làm ăn xa. Đến khoảng tháng 4/2010, bị cáo T quay về chung sống với chị T2. Đến ngày 25/02/2011, bị cáo T và chị T2 đăng ký kết hôn và có thêm 03 người con chung là: Huỳnh Thị Thu T3, sinh ngày 10/01/2011; Huỳnh Thị Mộng T7, sinh ngày 06/01/2013; Huỳnh Minh H2, sinh ngày 18/11/2018. Tuy nhiên hành vi của Huỳnh Minh T đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không xử lý hình sự đối với Huỳnh Minh T là có cơ sở.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, chị Lê Thị Hồng T2 có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo T.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xe máy hiệu Wave, biển số 59V1-132.85 do đối tượng tên P sử dụng. Kết quả, xe do anh Lê K đứng tên đăng ký xe. Anh K khai đã bán chiếc xe trên cho Nguyễn Văn T8, địa chỉ ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Kết quả xác minh T8 không còn ở địa phương đi đâu không rõ.
Xác minh số điện thoại 0778.332.xxx do đối tượng tên P sử dụng liên lạc với các bị cáo H1 và T đi phạm tội. Kết quả, số thuê bao do bà Dương Bích L1, địa chỉ D E, Phường A, Quận A là chủ thuê bao. Tại Cơ quan điều tra, bà L1 khai năm 2020 đăng ký thuê bao sử dụng số điện thoại trên, đến khoảng cuối tháng 2/2023 thì bị mất điện thoại ở đâu không rõ. Hiện ai sử dụng số trên thì bà không biết.
Kết quả xác minh, bị cáo T và chị Lê Thị Hồng T2 đăng ký hôn ngày 25/02/2011 tại Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận H; chị Lê Thị Hồng T2, sinh ngày 24/8/1992; Lê Thị Mộng V, sinh ngày 14/6/2007; Huỳnh Thị Thu T3, sinh ngày 10/01/2011; Huỳnh Thị Mộng T7, sinh ngày 06/01/2013, Huỳnh Minh H2, sinh ngày 18/11/2018.
Vật chứng vụ án:
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 có số thuê bao 0379.053.504, là tài sản bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho chị Vũ Thị Hồng Â.
- 01 balo màu đen hiệu collect01 bị rạch giữa phía sau là tài sản cá nhân của chị Â. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho chị Vũ Thị Hồng Â.
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1203 có số thuê bao 0788.773.761. Bị cáo T sử dụng liên lạc với P để thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J5, có số thuê bao 0782.386.877. Bị cáo H1 sử dụng liên lạc với P để thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 xe môtô nhãn hiệu Wave, màu đỏ, biển số 52F8-6475, số khung RLHHC09016Y623358, số máy: HC09E-6736605. Kết luận giám định xác định số khung, số máy không thay đổi. Xác minh, xe do chị Lê Thị Hồng T9, địa chỉ 1 C, Phường D, Quận C, đứng tên đăng ký xe. Kết quả xác minh, chị T9 không còn ở tại địa phương đã xuất cảnh đi Mỹ. Bị cáo T khai mua xe của một người không rõ nhân thân, lai lịch và sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ nhưng chưa có ai đến nhận.
- 01 xe môtô hiệu Honda Wave, biển số 59N2-414.97, số khung RLHHC1213DY063980, số máy: HC12E5064128 là phương tiện bị cáo H1 sử dụng đi thực hiện hành vi phạm tội. Kết luận giám định xác định số khung, số máy không thay đổi. Xác minh, xe do chị Huỳnh Lê Hồng C, địa chỉ E Ư, Phường A, Quận H, đứng tên đăng ký xe. Chị C khai cho cha là bị cáo Lê Văn H1 mượn làm phương tiện đi lại. Việc bị cáo H1 sử dụng vào việc phạm tội chị C không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại chiếc xe trên cho chị C.
- 01 USB chứa nội dung ghi hình các bị cáo H1, T và đối tượng P thực hiện hành vi phạm tội. (lưu cùng hồ sơ vụ án)
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
- 01 USB chứa nội dung ghi hình các bị cáo H1, T và đối tượng P thực hiện hành vi phạm tội. (lưu hồ sơ vụ án)
- 02 dĩa VCD chứa nội dung ghi âm, ghi hình biên bản hỏi cung các bị cáo H1 và T. (lưu hồ sơ vụ án)
Về dân sự: Bà Vũ Thị Hồng  đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Tại Bản Cáo trạng số 56/CT-VKSQ10 ngày 28 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Các bị cáo Huỳnh Minh T và Lê Văn H1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đối với xã hội, bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; phạt bị cáo Lê Văn H1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, miễn phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của các bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định các bị cáo Huỳnh Minh T và Lê Văn H1 đã có hành vi bàn bạc, phân công nhiệm vụ giữa các thành viên trước khi thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 có trị giá là 16.500.000 đồng. Do vậy, các bị cáo Huỳnh Minh T và Lê Văn H1 bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặt khác bị cáo H1 có quá trình nhân thân không tốt. Do vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương. Ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một số tiền nộp ngân sách nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại nên thiệt hại không lớn. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo T phạm tội lần đầu nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1203 có số thuê bao 0788.773.761. Bị cáo T sử dụng liên lạc với P để thực hiện hành vi phạm tội và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J5, có số thuê bao 0782.386.877 Bị cáo H1 sử dụng liên lạc với P để thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy đây là phương tiện của các bị cáo, các bị cáo sử dụng để phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Wave, màu đỏ, biển số 52F8-6475, số khung RLHHC09016Y623358, số máy: HC09E-6736605. Xét thấy đây là phương tiện của các bị cáo sử dụng nhưng hiện không xác định ai là chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 thông báo trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày đăng báo để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Hết thời hạn 01 năm mà không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với chiếc xe trên thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với Huỳnh Minh T;
- Căn cứ vào điểm a khoản 2, 5 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với Lê Văn H1;
- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 228 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Minh T và Lê Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2023.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2023.
Phạt tiền bổ sung bị cáo Lê văn H3 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thông báo với thời hạn 01 năm đối với chiếc xe môtô biển số 52F8-6475, số khung RLHHC09016Y623358, số máy: HC09E-6736605, nhãn hiệu: Honda, màu sơn: Xanh cam đen; số loại: Wave, loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm3; dung tích xi lanh: 97 để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu có đến nhận. Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo mà không có ai là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với chiếc xe trên thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1203 có số thuê bao 0788.773.761 và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J5, có số thuê bao 0782.386.877.
(Tình trạng vật chứng Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/7/2023 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án;
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với các bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
Bản án số 82/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 82/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Minh Tùng và đồng phạm
