TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày: 10 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Đổi
- Ông Nguyễn Chí Lin
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh ngày 01/01/1956, tại Long An; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Đ1 sinh năm 1936 (chết) và Huỳnh Thị M sinh năm 1936 (sống); anh chị em ruột có 08 người em lớn nhất sinh năm 1953, nhỏ nhất sinh năm 1976; Bị cáo có vợ tên Trương Thị Thanh T sinh năm 1964 có 03 đứa con lớn nhất sinh năm 1985 và nhỏ nhất 1990; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt.
Người bị hại:
Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1957 (tử vong). Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng:
- Bà Huỳnh Lợi P, sinh năm 1954;
- Bà Nguyễn Huỳnh Ngọc P1, sinh năm 1981;
- Bà Nguyễn Huỳnh Minh P2, sinh năm 1995;
Cùng địa chỉ: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Huỳnh Khánh P3, sinh năm 1986;
Địa chỉ: 7 L, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà Lợi P, Ngọc P4, Minh P5, bà Khánh P3 vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Hùng C, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ô, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 27/6/2023, Trần Văn Đ có giấy phép lái xe ô tô hạng D có giá trị sử dụng đến ngày 13/5/2025, điều khiển xe ô tô tải biển số 62H-000.69 lưu thông trên đường C theo hướng từ đường N về hướng Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An khi đến giao lộ giữa đường C và đường tỉnh 823 thuộc Ô5, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An thì Trần Văn Đ điều khiển xe ô tô tải biển số 62H-000.69 chuyển hướng sang phải về hướng ngã tư H, huyện Đ, tỉnh Long An khi chuyển hướng Trần Văn Đ không chú ý quan sát dẫn đến phần góc cản bảo vệ phía trước bên phải của xe ô tải biển số 62H-000.69 va chạm vào phần đuôi xe mô tô biển số 62Y1- 3926 do Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1957, nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả, ông Nguyễn Ngọc Q tử vong tại hiện trường.
Vật chứng tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave 110, số máy: C43E-0012275, số khung: 3089Y009803, màu đỏ, biển số 62Y1- 3926 và 01 xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai, loại HD270, số máy: D6ACHJ316555, số khung: KMCDB18CPHC098054, màu trắng, biển số 62H-000.69.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định như sau:
Hiện trường bị tác động do quá trình lưu thông qua lại của người và phương tiện khác, hiện trường không bị thay đổi.
Điều kiện về thời tiết, khí hậu, ánh sáng: Trời sáng, mặt đường khô.
Vụ tai nạn giao thông xảy ra tại giao lộ (ngã 4) giữa đường C và đường tỉnh 823, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, có đèn tín hiệu giao thông, mặt đường 3/2 rộng 17 mét; mặt đường tỉnh 823 rộng 10 mét.
Chọn lề đường bên phải đường tỉnh 823 theo hướng ngã 4 Đ, huyện Đ, tỉnh Long An về hướng ngã 4 H, huyện Đ, tỉnh Long An làm lề đường chuẩn. Chọn trụ điện số 11 làm điểm mốc cố định.
Đánh dấu (1) Là vị trí vết cày dài 13m60, không liền nét, đầu vết cày đo vào mép đường chuẩn là 8m30, cuối vết cày nằm dưới cản gát chân bên phải xe mô tô biển số 62Y1- 3926.
Đánh dấu (2) Là vị trí vết phanh dài 6m, rộng 0,5m, đầu vết phanh đo vào lề đường chuẩn là 7m10; cuối vết phanh nằm dưới trục (3) bên phải xe ô tô tải biển số 62H- 000.69.
Đánh dấu (3) Là vùng vật rơi không rõ hình dạng có kích thước (4m50 x 1m90) gồm mũ nhựa, biển số xe 62Y1- 3926 nằm rải rác trên mặt đường, tâm vùng vật rơi đo vào lề đường chuẩn là 5m50.
Đánh dấu (4) Là vị trí vết phanh dài 5m70, rộng 0m50, đầu vết phanh đo vào lề đường chuẩn là 5m30; cuối vết phanh nằm dưới trục bánh xe bên trái trục 3 của xe ô tô tải biển số 62H-000.69.
Đánh dấu (5) Là vị trí xe ô tô tải biển số 62H-000.69 đỗ trên mặt đường, đầu xe hơi chếch về hướng ngã 4 H, huyện Đ, tỉnh Long An tâm bánh xe bên trái trục 3 của xe ô tô tải biển số 62H-000.69 đo vào lề chuẩn là 1m50; tâm trục (1) bên trái đo ngược lề đường chuẩn là 0m60.
Đánh dấu (6) Là vị trí nạn nhân nam nằm nghiêng trên đường nhựa, thân người nằm giữa 2 trục bánh xe (trục 2, 3) bên phải xe tải 62H-000.69, đầu nạn nhân đo vào lề đường chuẩn là 4m10, giữa 2 chân đo vào lề đường chuẩn là 2m40.
Đánh dấu (7) Là vị trí xe mô tô biển số 62Y1-3926 nằm ngã nghiêng sang phải dưới gầm đầu xe ô tô tải 62H-000.69, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau đo vào lề đường chuẩn là 0m30 và 0m40;
Đánh dấu (8) Là vị trí vết trượt ma sát gồm mô thịt, da, máu không rõ hình dạng có kích thước 1m30 x 0m50 tâm vùng (8) đo vào lề đường chuẩn là 4m10.
Đầu vết cày (1) đo đến đầu vết phanh (4) là 3,20 mét; đầu vết cày (1) đo đến đầu vết phanh (2) là 1m80; đầu vết phanh (2) đo đến tâm (3) là 3m00; tâm (3) đo đến tâm (8) là 2m10; tâm trục (1) bên trái xe (5) đo đến tâm trục bánh sau xe (7) là 0m50.
Đầu vết cày (1) đo đến điểm mốc cố định là 34m70.
Kết quả khám phương tiện xác định như sau:
Xe ô tô tải biển số 62H- 000.69:
Có nhiều vết trầy xước ở cản gác bảo vệ phía trước đầu xe bên phải, kèm theo có bám nước sơn màu đỏ kích thước: 0m20 x 0m10; tâm đo xuống đất là 0m60.
Xe mô tô biển số 62Y1- 3926:
Phần ốp mũ thân xe bên trái phía sau nơi tem nhãn của xe có vết trầy xước và bám nước sơn màu trắng kích thước: 0m30 x 0m15;
Cong thụng và bám vết xước màu ghỉ sét ở chụp bảo vệ dây xích phía sau cong thụng từ trái sang phải, từ sau về trước.
Cong quẹo ốc tăng dây xích từ trên xuống dưới, từ sau về trước;
Hư hỏng toàn bộ dè chắn bùn sau, biển số rời khỏi thân xe, hư hỏng toàn bộ hệ thống đèn tín hiệu, đèn báo hiệu sau.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 133/KLGĐTT-TTPY ngày 27/7/2023 của Trung tâm P6 - Sở Y kết luận:
“Các kết quả chính:
Kết quả khám nghiệm: Chảy máu mũi, tai; vỡ nát vùng bụng, chậu, lồi ruột ra ngoài, sây sát biến dạng vùng ngực; sây sát bàn tay phải, sây sát gối trái.
Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Không.
Kết quả khác: Không.
Nguyên nhân tử vong của Nguyễn Ngọc Q do đa chấn thương nặng”.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị can Trần Văn Đ thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, tự nguyện thỏa thuận bồi thường tiền xong cho người đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Ngọc Q số tiền 154.000.000 đồng, người đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Ngọc Q tự nguyện có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can Trần Văn Đ.
Xử lý vật chứng:
Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave 110, số máy: C43E-0012275, số khung: 3089Y009803, màu đỏ, biển số 62Y1- 3926 là tài sản của bị hại Nguyễn Ngọc Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Nguyễn Huỳnh Khánh P3, sinh năm 1986, nơi cư trú: Số G L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo pháp luật của Nguyễn Ngọc Q theo biên bản trả lại đồ vật tài liệu ngày 26/7/2023.
Xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai, loại HD270, số máy: D6ACHJ316555, số khung: KMCDB18CPHC098054, màu trắng, biển số 62H-000.69 là tài sản của Nguyễn Hùng C, sinh năm 1987, nơi cư trú: Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Nguyễn Hùng C theo biên bản trả lại đồ vật tài liệu ngày 26/7/2023.
Phần dân sự:
Người đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Ngọc Q là Nguyễn Huỳnh Khánh P3 đã nhận đủ tiền bồi thường thiệt hại là 4.000.000 đồng của bị cáo Đ và 150.000.000 đồng của Nguyễn Hùng C. Ngoài ra, Nguyễn Huỳnh Khánh P3 không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKSĐH ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Bởi vì hiện tại bị cáo lớn tuổi, bệnh già, vợ bệnh không người nuôi dưỡng. Gia cảnh bị cáo rất khó khăn. Tai nạn giao thông xảy ra, bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho bị hại 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) và ông Nguyễn Hùng C tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo là 150.000.000 đồng. Tổng cộng là 154.000.000 đồng giao cho gia đình người bị hại và gia đình người bị hại đã làm đơn xin giảm án cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An phát biểu:
Trên cơ sở đánh giá, phân tích hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhận thấy, bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Để góp phần phục vụ tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn huyện, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ, phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều 2, Điều 4 và Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẩn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo xử phạt Trần Văn Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 03 năm.
Xử lý vật chứng: không.
Về trách nhiệm dân sự: Không có.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 BLTTHS và nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, đề nghị buộc các bị cáo phải chấp hành án phí, lệ phí theo đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người thừa kế quyền và nghĩa vụ người bị hại; người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án như Nguyễn Hùng C, người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Ngọc Q và người làm chứng, phù hợp các chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà như biên bản hiện trường, các biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 08 giờ ngày 27/6/2023, tại giao lộ giữa đường C và đường tỉnh 823 thuộc Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, Trần Văn Đ có giấy phép lái xe hạng D có giá trị sử dụng đến ngày 13/5/2025, có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển số 62H-000.69 chuyển hướng sang phải không chú ý quan sát dẫn đến phần góc cản bảo vệ phía trước bên phải của xe ô tải biển số 62H-000.69 va chạm vào phần đuôi xe mô tô biển số 62Y1- 3926 do Nguyễn Ngọc Q điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả, Nguyễn Ngọc Q tử vong tại hiện trường.
Hành vi của Trần Văn Đ đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng của Nguyễn Ngọc Q, xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, nguy hiểm cho xã hội, nên phải xử lý bằng pháp luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Trần Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Văn Đ theo quy định tại điểm theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trực tiếp đến an toàn giao thông mà hậu quả gây chết một người. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý do cẩu thả không quan sát kỹ phần đường bên phải hướng đi khi cho xe rẽ phải tại ngã tư giao nhau dẫn đến phần góc cản bảo vệ phía trước bên phải của xe ô tải biển số 62H-000.69 va chạm vào phần đuôi xe mô tô biển số 62Y1- 3926 do Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1957, nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả, ông Nguyễn Ngọc Q tử vong tại hiện trường. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Trần Văn Đ thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội, bị cáo có tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại 4.000.000 đồng, chủ xe ô tải biển số 62H-000.69 ông Nguyễn Hùng C tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo đối với người bị hại là 150.000.000 đồng; bà Nguyễn Huỳnh Khánh P3 đại diện bị hại có làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị báo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có vợ bị bệnh không người chăm sóc, bản thân bị cáo lớn tuổi...nên khi lượng hình xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Từ phân tích trên, xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm đến 03 năm là phù hợp. Do đó, không cần thiết cách ly bị cáo với xã hội cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[5]. Về xử lý vật chứng:
Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave 110, số máy: C43E-0012275, số khung: 3089Y009803, màu đỏ, biển số 62Y1- 3926 là tài sản của bị hại Nguyễn Ngọc Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Nguyễn Huỳnh Khánh P3, sinh năm 1986, nơi cư trú: Số G L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo pháp luật của Nguyễn Ngọc Q theo biên bản trả lại đồ vật tài liệu ngày 26/7/2023. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
Xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai, loại HD270, số máy: D6ACHJ316555, số khung: KMCDB18CPHC098054, màu trắng, biển số 62H-000.69 là tài sản của Nguyễn Hùng C, sinh năm 1987, nơi cư trú: Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Nguyễn Hùng C theo biên bản trả lại đồ vật tài liệu ngày 26/7/2023. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[6] Về phần dân sự: Bị cáo Trần Văn Đ đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Ngọc Q số tiền là 4.000.000 đồng và chủ xe ô tải biển số 62H-000.69 tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo đối với người bị hại là 150.000.000 đồng và đại diện người bị hại Nguyễn Ngọc Q là bà Nguyễn Huỳnh Khánh P3 xác nhận đã nhận đủ tiền không yêu cầu về trách nhiệm dân sự và cam kết không khiếu nại về sau nên không đề cập xem xét.
[7]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều 2, Điều 4 và Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Văn Đ về Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Trần Văn Đ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Trần Văn Đ thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Trần Văn Đ nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Án xử sơ thẩm công khai. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mộng Thúy |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Đ - Vi phạm quy định về giao thông đường bộ
