TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BỀN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 09/9/2024.
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
| - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: | |
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Phạm Thị Xuân Thi. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Bé Em |
| Ông Lê Anh Giàu | |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Lan- Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 267/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lương Thị Hồng P, sinh năm: 1989. Địa chỉ: D ấp B, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre. (Có văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Văn M, sinh năm: 1986. Địa chỉ: C ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt, nguyên đơn bà Lương Thị Hồng P trình bày:
Bà và ông M tự nguyện sống chung năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân P1, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào năm 2017. Thời gian đầu, cuộc sống vợ chồng của bà và ông M hạnh phúc. Đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên thường xuyên bất hòa, ông M không phụ giúp kinh tế để lo cho gia đình. Ông bà đã ly thân từ tháng 9 năm 2023 cho đến nay. Nay bà khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Về hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông M.
Về con chung: ông bà có hai con chung là Lê Duy K, sinh ngày 30/4/2007 và Lê Quốc B, sinh ngày 08/7/2019. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung và yêu cầu ông M cấp dưỡng cho mỗi con 1.500.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: không có.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho vợ, chồng sau khi ly hôn: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Do điều kiện công việc nên bà đề nghị được vắng mặt trong tất các các buổi làm việc của Tòa án và xin được vắng mặt trong tất cả các phiên xét xử của Tòa án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hai triệu tập hợp lệ bị đơn ông Lê Văn M đến để tiến hành hòa giải nhưng đơn ông Lê Văn M vắng mặt và không có trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre có ý kiến:
Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự được bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 51, 56, 58, 81 đến 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định liên quan đến án phí, lệ phí:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P;
- - Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Duy K, sinh ngày 30/4/2007 và Lê Quốc B, sinh ngày 08/7/2019 cho bà P nuôi dưỡng; ông M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1,5 triệu đồng/01 con chung.
- Ông M có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
- - Về tài sản chung: đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và kết quả nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lương Thị Hồng P khởi kiện ông Lê Văn M yêu cầu ly hôn nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Lê Văn M là bị đơn trong vụ án, có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng:
Bà Lương Thị Hồng P có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Ông Lê Văn M đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Hồng P và ông Lê Văn M tự nguyện sống chung năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân P1, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào năm 2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo bà P trình bày, sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống của ông bà có hạnh phúc, sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên bất hòa, ông M không phụ giúp bà trong kinh tế để lo cho con, ông bà đã ly thân với nhau từ tháng 9 năm 2023 cho đến nay.
Trong thời gian ly thân này, ông bà không có biện pháp nào để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Tòa án cũng đã tiến hành mở phiên hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho ông bà đoàn tụ, tuy nhiên ông M vẫn cố tình không đến, điều này cho thấy ông M không có thiện chí muốn duy trì mối quan hệ vợ chồng, không quan tâm đến việc Tòa án đang giải quyết yêu cầu ly hôn của ông bà P.
Điều này cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.
[3.2] Về con chung: ông bà có 02 con chung tên Lê Duy K, sinh ngày 30/4/2007 và Lê Quốc B, sinh ngày 08/7/2019. Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy, bà P có yêu cầu được trực tiếp nuôi con, hiện tại cả hai con chung đều đang sống với bà P, có cuộc sống ổn định, tại biên bản hỏi ý kiến con chung, cháu Lê Duy K có nguyện vọng được sống với mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của của bà P, giao hai con chung cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà P yêu cầu ông ông M cấp dưỡng cho mỗi con chung 1.500.000 đồng/tháng. Căn cứ theo Điều 82, Điều 110 Luật Hôn nhân gia đình 2014, ông M phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho con chung chưa thành niên. Về mức cấp dưỡng, căn cứ theo quy định tại khoản 02 Điều 7 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Điều 116 Luật Hôn nhân gia đình 2014, Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ, Hội đồng xét xử buộc ông M phải cấp dưỡng hàng tháng cho mỗi con chung theo mức cấp dưỡng bằng 50% mức lương tối thiểu vùng tại nơi cư trú của ông M, mức lương tối thiểu vùng tại địa bàn thành phố B hiện tại là 4.160.000 đồng; do đó, bà P yêu cầu cấp dưỡng mỗi con chung 1.500.000 đồng/ tháng là có căn cứ chấp nhận.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà P khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho vợ, chồng sau khi ly hôn: Bà P không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3.4] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4]. Về án phí: Bà P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền 300.000đồng; Ông M phải chịu án phí cấp dưỡng với số tiền 300.000đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị Hồng P đối với bị đơn ông Lê Văn M về việc tranh chấp ly hôn, cụ thể tuyên:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Hồng P được ly hôn với ông Lê Văn M.
2. Về con chung: giao con 02 con chung tên Lê Duy K, sinh ngày 30/4/2007 và Lê Quốc B, sinh ngày 08/7/2019 cho bà Lương Thị Hồng P trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Lê Văn M có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con chung 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn đồng) đồng/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Ông Lê Văn M được quyền đến thăm chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì quyền và lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Bà Lương Thị Hồng P khai không có, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà Lương Thị Hồng P khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Lương Thị Hồng P phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002652 ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Ông Lê Văn M phải nộp án phí cấp dưỡng là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
6. Bà Lương Thị Hồng P và ông Lê Văn M vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phạm Thị Xuân Thi |
Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre về ly hôn
- Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa bà Lương Thị Hồng P và ông Lê Văn M.
