|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày: 06/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tần Quốc Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thanh Nga.
- Bà Đinh Kim Hoàng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quế Anh là Thư ký Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Vũ - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/HSST-QĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
1. Lê Hữu T, sinh ngày 16/5/1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số I đường B, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: chạy xe ôm; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoài V, sinh năm 1957 (chết) và bà Nguyễn Thu V1, sinh năm 1961 (chết); Vợ: Lê Thị Ngọc B Phan Thị Hồng Y, sinh năm 1982; Con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 25/08/2006 bị Công an Q1 bắt về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 12/02/2007 Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 03 năm 09 tháng tù theo bản án số 25/HSST ngày 12/02/2007. Lê Hữu T kháng cáo, ngày 17/5/2007 Tòa án nhân dân TP . Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm. Chấp hành từ ngày 25/08/2006 đến ngày 25/02/2010.
Ngày 11/06/2011 bị Công an Q2 bắt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 30/9/2011 Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 03 năm 06 tháng tù theo bản án số 300/2011/HSST ngày 30/9/2011. Chấp hành từ ngày 11/6/2011 đến ngày 11/3/2014.
Ngày 31/12/2014 bị Công an Q2 bắt về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 10/02/2015 Tòa án nhân dân Quận 8 ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 93/QĐTA ngày 10/02/2015. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng. Chấp hành từ ngày 31/12/2014 đến ngày 31/12/2016.
Ngày 06/4/2017 bị Công an Q3 nghi vấn “Sử dụng trái phép chất ma túy” kết quả xét nghiệm của T dương tính với ma túy (Heroin). Ngày 13/6/2017 Tòa án nhân dân Quận 1 ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 109/QĐTA ngày 13/6/2017. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng. Chấp hành từ ngày 06/4/2017 đến ngày 06/10/2018.
Ngày 23/10/2019 bị Công an Q4 bắt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 28/11/2019 Tòa án nhân dân Quận 5 ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 150/2019/QĐTA ngày 13/6/2017. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng. Chấp hành từ ngày 23/10/2019 đến ngày 18/8/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 24/12/2023. “có mặt”
2. Lê Viết T1, sinh ngày //1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Không có; nghề nghiệp: lượm ve chai; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Phạm H (chết) và bà Trần Thị M (chết); Vợ: Không có; Con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự:
Ngày 23/01/2022 bị Công an Q5 bắt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 01/4/2022 Tòa án nhân dân Quận 4 ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 54/QĐTA ngày 01/4/2012. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng. Chấp hành từ ngày 23/01/2022 đến ngày 23/10/2023.
Nhân thân:
Ngày 25/6/1996 Tòa án nhân dân TP . Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm tuyên y án (27 tháng tù) theo bản án số 232/HSPT ngày 25/6/1996. Chấp hành từ ngày 22/3/1995 đến ngày 22/6/1997.
Ngày 17/6/1998 bị Công an Q5 bắt về hành vi “Cướp giật tài sản”. Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xử phạt 30 tháng tù treo theo bản án 1952/HSST ngày 05/10/1998. Chấp hành từ ngày 17/6/1998 đến ngày 17/10/2000.
Ngày 06/02/2001 bị Công an Q3 bắt về hành vi “Cướp giật tài sản”. Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xử phạt 4 năm tù treo theo bản án 680/HSST ngày 11/06/2001. Chấp hành từ ngày 06/02/2001 đến ngày 06/02/2005.
Ngày 10/5/2005 bị Công an Q5 bắt về hành vi “Cướp giật tài sản”. Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù treo theo bản án 161/HSST ngày 10/11/2005. Chấp hành từ ngày 10/5/2005 đến ngày 10/05/2011.
Ngày 27/01/2015 bị Công an Q1 bắt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tòa án nhân dân Quận 1 đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 111/QĐTA ngày 18/3/2015. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng. Chấp hành từ ngày 27/01/2015 đến ngày 27/01/2017.
Ngày 11/4/2017 bị Công an Q3 bắt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 13/6/2017 Tòa án nhân dân Quận 1 đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 106/QĐTA ngày 18/3/2015. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng. Chấp hành từ ngày 10/04/2017 đến ngày 10/10/2018.
Ngày 13/8/2019 bị Công an Q3 bắt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 13/6/2017 Tòa án nhân dân Quận 1 đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 203/QĐTA ngày 16/10/2019. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 tháng. Chấp hành từ ngày 13/05/2018 đến ngày 13/05/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 24/12/2023. “có mặt”
2. Những người tham gia tố tụng:
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Lê Thị Y1; Địa chỉ: 9 đường B, phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 24/12/2023, Lê Hữu T điều khiển xe gắn máy biển số 59H1-710.07 gặp Lê Viết T1 tại Quận H. Sau đó, T chở T1 qua Quận D mua ma túy. Trên đường đi mua ma túy, T1 và Tài bàn bạc với nhau là T góp số tiền là 50.000 đồng và T1 bỏ ra số tiền 240.000 đồng mua 03 tép heroin để sử dụng (Tài 01 tép và T1 02 tép). Sau khi bàn bạc thống nhất T chở T1 vào hẻm C N, Phường A, Quận D gặp Nguyến Ngọc H1 và Lê Tấn Q hỏi mua 290.000 đồng ma túy, T1 nhận 03 đoạn ống nhựa (03 tép) bên trong chứa ma túy Heroin và cầm trên tay phải. Sau khi mua ma túy, T chở T1 đi đến trước số nhà A Đ, Phường A, Quận D thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện T1 và T có biểu hiện nghi vấn thu giữ tang vật đưa cả 2 về trụ sở Công an P, Quận D lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định số 413/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi của Lê Hữu T, Lê Viết T1 và hình dấu Công an P, Quận D, bên trong có 03 đoạn ống nhựa được hàn kín đầu chứa bột màu trắng là ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,2395 gam.
Đối với Nguyễn Ngọc H2 và Lê Tấn Q là đối tượng bán ma túy cho T1 và T đang bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tội phạm ma túy (PC04) Công an Thành phố H bắt, khởi tố và tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” xảy ra ở Quận D và vụ án do Công an T thụ lý điều tra.
Vật chứng và vật hiện đang tạm giữ:
- 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Hữu T, Lê Viết T1 và hình dấu Công an Phường 13 Quận D, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
- 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A04s màu xanh đã qua sử dụng. Đây là tài sản cá nhân của T, không liên quan đến vụ án.
- 01 xe gắn máy hiệu Wave màu xanh, biển số 59H1-710.07đã qua sử dụng. Qua xác minh chiếc chiếc xe bà Lê Thị Ngọc Y2 (chị ruột của Lê Hữu T) thường trú tại 9 B, Phường E, Quận E đang là chủ sở hữu. Bà Lê Thị Ngọc Y2 không biết việc tài sử dụng xe đi mua ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q5 đã trả chiếc xe trên cho Lê Thị Ngọc Bà Phan Thị Hồng Y3.
Toàn bộ số vật chứng tạm giữ trên Cảnh sát điều tra Công an Quận 4 đã nhập kho vật chứng Cơ quan thi hành án dân sự.
Tại Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 11/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Hữu T và Lê Viết T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bị cáo Lê Hữu T và bị cáo Lê Viết T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hữu T 02 (một) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam và đề nghị xử phạt bị cáo Lê Viết T1 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Hữu T, Lê Viết T1 và hình dấu Công an Phường 13 Quận D, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
- Đề nghị trả lại cho Lê Hữu T 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A04s màu xanh đã qua sử dụng. Đây là tài sản cá nhân của T.
- Các bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lê Hữu T và Lê Viết T1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai những người làm chứng cùng các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 24/12/2023, tại trước số nhà A Đ, Phường A, Quận D, Lê Hữu T và Lê Viết T1 đang cất giữ 0,2935 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng nên phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự an toàn xã hội, làm lây nhiễm nhiều căn bệnh nguy hiểm và gây tác hại xấu đến đời sống xã hội. Vì vậy, cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về nhân thân:
- -Bị cáo Lê Hữu T không có tiền án, tiền sự, tuy nhiên có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử lý về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- -Bị cáo Lê Viết T1 không có tiền án, có 09 tiền sự trong đó nhiều lần bị xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhiều thành tích cao trong thi đấu thể thao nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Hữu T, Lê Viết T1 và hình dấu Công an Phường 13 Quận D, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
- Trả lại cho Lê Hữu T 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A04s màu xanh đã qua sử dụng. Đây là tài sản cá nhân của T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: Lê Hữu T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: Lê Viết T1 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Hữu T, Lê Viết T1 và hình dấu Công an Phường 13 Quận D, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
- - Trả lại cho Lê Hữu T 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A04s màu xanh đã qua sử dụng. Đây là tài sản cá nhân của T.
- (Vật chứng được tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng số 100/2024 ngày 25/7/2024 giữa Công an Q5 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- 2. Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tần Quốc Bình |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tần Quốc B1 |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lê hữu tài lê viết thanh
