TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP . NỘI ********** | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ======o0o======= |
Bản án số: 82/2024/HSST
Ngày: 6/8/2024
NHÂN DANH
NỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quang K
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Xuân M
Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu
Bà Dương Thị Kim L
Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu
Th ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Â- Th ký Toà án nhân dân huyện Mê L1
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê L1 tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích L2- Kiểm sát viên
Ngày 6 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê L1, T/p Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2024/HSST ngày 5 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh năm 1990. Tại Hà Nội
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện M, TP . Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; Con ông Nguyễn Văn B, con bà Đỗ Thị C; Vợ: Lưu Thị T, có 02 con; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến ngày 02/02/2024, có mặt tại phiên tòa.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Khắc C1, sinh 1978. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện M, TP.
- Anh Nguyễn Văn H, sinh 1982. Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện M, TP.
- Anh Nguyễn Thành T1, sinh 1990. Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện M, TP.
- Anh Nguyễn Hữu H1, sinh 1982. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện M, TP.
- Anh Lưu Văn Đ, sinh 1990. Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện M, TP.
- Anh Nguyễn Hữu K1, sinh 1996. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện M, TP.
- Anh Phan Văn D, sinh 1992. Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện M, TP.
- Anh Nguyễn Duy T2, sinh 1988. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện M, TP.
- Anh Lê Hồng L3, sinh 1996. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện M, TP.
Anh Nguyễn Hữu H1 có đơn xin vắng mặt, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 22/01/2024, Cục C3 – Bộ C4 tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà Nguyễn Văn N (sinh năm 1990, trú tại: thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội) phát hiện N có hành vi cho nhiều người vay tiền với lãi suất cao nên Cục C3 – Bộ C4 tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của N và thu giữ vật chứng có liên quan đến nội dung cho vay lãi, sau đó bàn giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M để tiến hành điều tra làm rõ.
Quá trình điều tra xác định, khoảng tháng 6/2022, Nguyễn Văn N hoạt động cho vay lãi nặng trên địa bàn huyện M, với hình thức cho vay tín chấp hoặc thế chấp bằng sổ đỏ đất, ô tô, xe máy và các giấy tờ có giá trị khác. Khi người có nhu cầu cần vay tiền sẽ liên hệ với N để thực hiện cho vay tiền rồi Nam quy định về thời hạn vay, lãi suất cao cụ thể cho từng khoản vay và hình thức trả lãi qua tài khoản 122233445678 của N mở tại Ngân hàng M1 hoặc trả lãi trực tiếp bằng tiền mặt cho N. Cụ thể N đã cho một số người vay lãi suất cao và thu được số tiền lãi như sau:
- Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Khắc C1 – sinh năm 1987, trú tại: Thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội vay 09 lần, với tổng số tiền là 1.100.000.000 đồng:
Lần vay 1: Từ ngày 12/8/2022 đến ngày 20/8/2022 (9 ngày) anh C1 vay 300.000.000 đồng, thời hạn vay 09 ngày, Nam quy định mức lãi suất 3.900đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 142,35% năm, vượt quá 7,1 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 300.000.000 đồng và thu lãi 10.530.000 đồng. Số tiền được hưởng lãi theo quy định tại Điều 468 - Bộ luật Dân sự định về lãi suất cao nhất là 20%/năm, được hưởng 1.479.452 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 9.050.548 đồng.
Lần vay 2: Từ ngày 08/9/2022 đến ngày 27/9/2022 (19 ngày) anh C1 vay 100.000.000 đồng, thời hạn vay 19 ngày, Nam quy định lãi suất 5.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 182,5%/năm, vượt quá 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 100.000.000 đồng và thu lãi 9.500.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 1.041.095 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 8.458.905 đồng.
Lần vay 3: Từ ngày 13/9/2022 đến ngày 21/10/2022 (39 ngày) anh C1 vay 50.000.000 đồng, thời hạn vay 39 ngày, Nam quy định lãi suất 4.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 146%/năm, vượt quá 7,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 50.000.000 đồng và thu lãi 7.800.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 1.068.493 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 6.731.507 đồng;
Lần vay 4: Từ ngày 17/11/2022 đến ngày 03/12/2022 (17 ngày) anh C1 vay 70.000.000 đồng, thời hạn vay 17 ngày, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 70.000.000 đồng và thu lãi 3.570.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 652.055 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 2.917.945 đồng;
Lần vay 5: Từ ngày 13/6/2023 đến ngày 30/6/2023 (18 ngày) anh C1 vay 100.000.000 đồng, thời hạn vay 17 ngày, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 100.000.000 đồng và thu lãi 5.400.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 986.301 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 4.413.699 đồng;
Lần vay 6: Từ ngày 20/6/2023 đến ngày 30/6/2023 (11 ngày) anh C1 vay 100.000.000 đồng, thời hạn vay 17 ngày, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 100.000.000 đồng và thu lãi 3.300.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 602.739 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 2.697.261 đồng;
Lần vay 7: Từ ngày 05/7/2023 đến ngày 08/8/2023 (35 ngày) anh C1 vay 100.000.000 đồng, thời hạn vay 35 ngày, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 100.000.000 đồng và thu lãi 10.500.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 1.917.808 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 8.582.192 đồng;
Lần vay 8: Từ ngày 18/8/2023 đến ngày 25/9/2023 (39 ngày) anh C1 vay 200.000.000 đồng, thời hạn vay 39 ngày, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 200.000.000 đồng và thu lãi 23.400.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 4.273.973 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 19.126.027 đồng;
Lần vay 9: Từ ngày 04/11/2023 đến ngày 18/12/2023 (45 ngày) anh C1 vay 80.000.000 đồng, thời hạn vay 45 ngày, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 80.000.000 đồng và thu lãi 10.800.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 1.972.602 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 8.827.398 đồng;
Tổng cộng số tiền N thu lợi bất chính từ 09 lần cho anh C1 vay là: 70.805.482 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Văn H – sinh năm 1982, trú tại: Thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội vay 04 lần với tổng số tiền là 180.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: Từ ngày 12/10/2022 đến ngày 01/01/2023 (82 ngày) anh H vay 80.000.000 đồng, thời hạn vay 82 ngày, Nam quy định lãi suất 4.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 146%/năm, vượt quá 7,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 80.000.000 đồng và thu lãi 26.240.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 3.594.503 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 22.645.497 đồng;
Lần 2: Từ ngày 28/7/2022 đến ngày 29/9/2022 (64 ngày) anh H vay 40.000.000 đồng, thời hạn vay 64 ngày, Nam quy định lãi suất 5.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 182,5%/năm, vượt quá 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 40.000.000 đồng và thu lãi 12.800.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 1.420.740 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 11.397.260 đồng;
Lần 3: Từ ngày 09/7/2022 đến ngày 17/7/2022 (09 ngày) anh H vay 30.000.000 đồng, thời hạn vay 09 ngày, Nam quy định lãi suất 5.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 182,5%/năm, vượt quá 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 30.000.000 đồng và thu lãi 1.350.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 147.945 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 1.202.055 đồng;
Lần 4: Từ ngày 27/11/2023 đến ngày 22/01/2024 ngày phát hiện sự việc (56 ngày), anh H vay 30.000.000 đồng, N quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Đến nay anh H chưa trả tiền gốc và tiền lãi cho N, tiền lãi anh H phải trả cho N 5.040.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 920.547 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 4.119.453 đồng;
Tổng cộng số tiền N thu lợi bất chính từ 04 lần cho anh Nguyễn Văn H vay là: 39.364.265 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Thành T1 – sinh năm 1990, trú tại: Thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội vay 04 lần với tổng số tiền 55.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: Từ ngày 29/3/2021 đến ngày 07/01/2023 (650 ngày) anh T1 vay 10.000.000 đồng, thời hạn vay 650 ngày, Nam quy định lãi suất 4.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 146%/năm, vượt quá 7,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 10.000.000 đồng và thu lãi 26.000.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 3.561.644 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 22.438.356 đồng;
Lần 2: Từ ngày 20/3/2021 đến ngày 05/4/2021 (17 ngày) anh T1 vay 20.000.000 đồng, thời hạn vay 17 ngày, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 20.000.000 đồng và thu lãi 1.020.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 186.301 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 833.699 đồng;
Lần 3: Từ ngày 27/4/2020 đến ngày 22/3/2021 (330 ngày) anh T1 vay 15.000.000 đồng, thời hạn vay 330 ngày, Nam quy định lãi suất 4.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 146%/năm, vượt quá 7,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 15.000.000 đồng và thu lãi 19.800.00.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 2.712.329 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này 17.087.671 đồng;
Lần 4: Từ ngày 13/7/2020 đến ngày 22/3/2021 (253 ngày) anh T1 vay 10.000.000 đồng, thời hạn vay 253 ngày, Nam quy định lãi suất 4.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 146%/năm, vượt quá 7,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 10.000.000 đồng và thu lãi 10.120.00.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 21.386.301 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này 8.733.699 đồng;
Tổng cộng số tiền N thu lợi bất chính từ 04 lần cho anh T1 vay là: 49.093.425 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Hữu H1 – sinh năm 1982, trú tại: Thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội vay 02 lần với tổng số tiền là 40.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: Từ ngày 25/6/2020 đến ngày 30/5/2023 (1.070 ngày) anh H1 vay 30.000.000 đồng, thời hạn vay 1.070 ngày, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 30.000.000 đồng và thu lãi 96.300.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 17.589.041 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 78.710.959 đồng;
Lần 2: Từ ngày 29/8/2020 đến ngày 30/5/2023 (1.005 ngày) anh H1 vay 10.000.000 đồng, thời hạn vay 1.005 ngày, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 10.000.000 đồng và thu lãi 30.150.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 5.506.849 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 24.643.151 đồng;
Tổng cộng số tiền N thu lợi bất chính từ 02 lần cho anh Nguyễn Hữu H1 vay là: 103.354.110 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Lưu Văn Đ – sinh năm 1990, trú tại: Thôn A, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội vay 02 lần với tổng số tiền 30.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: Từ ngày 29/12/2020 đến ngày 19/3/2022 (446 ngày) anh Đ vay 20.000.000 đồng, thời hạn vay 446 ngày, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 20.000.000 đồng và thu lãi 21.360.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 4.887.671 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 16.472.329 đồng;
Lần 2: Từ ngày 10/6/2020 đến ngày 19/3/2022 (648 ngày) anh Đ vay 10.000.000 đồng, thời hạn vay 446 ngày, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. N đã thu đủ số tiền vay là 10.000.000 đồng và thu lãi 11.340.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 3.550.685 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 7.789.315 đồng;
Tổng cộng số tiền N thu lợi bất chính từ 02 lần cho anh Đ vay là: 24.261.644 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Hữu K1 – sinh năm 1996, trú tại: Thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội vay 02 lần với tổng số tiền 9.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: Khoảng tháng 12/2016, anh K1 vay 4.000.000 đồng, không ghi thời hạn trả nợ, Nam quy định lãi suất 5.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 182,5%/năm, vượt quá 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Anh K1 trả lãi cho N được 02 tháng là 1.200.000 đồng thì không trả nữa. Đến tháng 7/2017, anh K1 xin N một phần tiền lãi và sau đó trả cho N 7.000.000 đồng, trong đó tiền vay 4.000.000 đồng, tiền lãi 3.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền lãi anh K1 trả N cho lần vay này là 4.200.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định (08 tháng) là 533.333 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này 3.666.667 đồng;
Lần 2: Khoảng tháng 9/2017, anh K1 vay 5.000.000 đồng, không ghi thời hạn trả nợ, Nam quy định lãi suất 5.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 182,5%/năm, vượt quá 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Anh K1 trả lãi cho N được 03 tháng là 2.250.000 đồng thì không trả nữa. Đến tháng 01/2020, anh K1 xin N một phần tiền lãi và sau đó trả cho N 10.000.000 đồng, trong đó tiền vay 5.000.000 đồng, tiền lãi 5.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền lãi anh K1 trả N cho lần vay này là 7.250.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định (29 tháng) là 2.416.667 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này 4.833.333 đồng;
Tổng cộng số tiền N thu lợi bất chính từ 02 lần cho anh K1 vay là: 8.500.000 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Phan Văn D – sinh năm 1992, trú tại: Thôn A, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội vay 02 lần với tổng số tiền 35.000.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: Từ ngày 22/01/2020 đến ngày 23/02/2020 (33 ngày) anh D vay 10.000.000 đồng, thời hạn vay 33 ngày, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Tiền gốc 10.000.000 đồng anh D chưa trả, N đã thu lãi 990.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 180.822 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 809.178 đồng;
Lần 2: Từ ngày 23/02/2020 anh Phan Văn D vay 15.000.000 đồng, Nam quy định lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, vượt quá 5,47 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Trước đó anh D có vay của N 10.000.000 đồng nên tính tổng cộng lần vay này anh D vay của N là 25.000.000 đồng, lãi suất tính 75.000 đồng/1 ngày. Anh Dũng chỉ trả lãi cho N được vài tháng đầu tiên nhưng không nhớ số tiền đã trả lãi được là bao nhiêu. Đến ngày 14/04/2022, người nhà anh D đứng ra trả nợ thay cho anh D 25.000.000 đồng và xin không phải trả lãi, N đồng ý và không lấy lãi đối với khoản này;
Tổng số tiền N thu lợi bất chính từ 02 lần cho anh D vay là: 809.178 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Duy T2 – sinh năm 1988, trú tại: Thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội vay của N số tiền 40.000.000 đồng. Nam quy định lãi suất 4.000đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng mức lãi suất 146%/năm, vượt quá 7,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Thời hạn vay từ ngày 16/9/2022 đến ngày 06/10/2023 (386 ngày). Anh T2 trả lãi cho N được 03 đầu tháng là 14.400.000 đồng; 01 tháng thứ tư là 3.000.000 đồng, tổng cộng 4 tháng trả được tiền lãi 17.400.000 đồng. Sau đó thì anh T2 không không được lãi. Đến ngày 06/10/2023, anh T2 xin N một phần tiền lãi và sau đó trả cho N 70.000.000 đồng, trong đó tiền vay 40.000.000 đồng, tiền lãi 30.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền lãi anh T2 trả N cho khoản vay này là 47.400.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định 8.460.274 đồng, N thu lời bất chính từ khoản vay này là 38.939.726 đồng;
Ngoài ra, Nguyễn Văn N còn cho các anh Phạm Tiến T3 – sinh năm 1996, trú tại: thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội vay 30.000.000 đồng, với lãi suất 2.000đồng/1 triệu/1 ngày; cho anh Nguyễn Đình H2 – sinh năm 1988, trú tại thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội vay 75.000.000 đồng không lấy lãi. Quá trình điều tra xác định, sau khi cho vay Nam không lấy tiền lãi đối với những khoản vay này của anh T3 và anh H2 nên không xem xét.
Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKS-ML ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê L1 truy tố bị cáo Nguyễn Văn N theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê L1 đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan các anh Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Hữu H1, Lưu Văn Đ, Nguyễn Hữu K1, Phan Văn D, Lưu Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra các anh có lời khai xác nhận việc có vay tiền của N với lãi xuất và số tiền như cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê L1 duy trì quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử.
Căn cứ khoản 2 Điều 201, điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan 335.127.830đ tiền thu lời bất chính. Truy thu của bị cáo số tiền dùng vào việc cho vay và số tiền lãi theo quy định.
Về tang vật: không có.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H3 đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nam đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê L1 đã truy tố. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác đã được thẩm tra công khai tại phiên toà hôm nay, có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích kiếm tiền bằng hình thức cho vay tiền với lãi xuất cao, trong thời gian từ tháng 6/2022 đến tháng 01/2024, Nguyễn Văn N đã cho nhiều người vay tiền với lãi xuất cao để thu lời bất chính, cụ thể:
- Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Khắc C1 vay 09 lần, với tổng số tiền là 1.100.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền N thu lợi bất chính từ 09 lần cho anh C1 vay là: 70.805.482 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Văn H vay 04 lần với tổng số tiền là 180.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền N thu lợi bất chính từ 04 lần cho anh Nguyễn Văn H vay là: 39.364.265 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Thành T1 vay 04 lần với tổng số tiền 55.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền N thu lợi bất chính từ 04 lần cho anh T1 vay là: 49.093.425 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Hữu H1 vay 02 lần với tổng số tiền là 40.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền N thu lợi bất chính từ 02 lần cho anh Nguyễn Hữu H1 vay là: 103.354.110 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Lưu Văn Đ vay 02 lần với tổng số tiền 30.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền N thu lợi bất chính từ 02 lần cho anh Đ vay là: 24.261.644 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Hữu K1 vay 02 lần với tổng số tiền 9.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền N thu lợi bất chính từ 02 lần cho anh K1 vay là: 8.500.000 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Phan Văn D vay 02 lần với tổng số tiền 35.000.000 đồng. Tổng số tiền N thu lợi bất chính từ 02 lần cho anh D vay là: 809.178 đồng.
- Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Duy T2 vay số tiền 40.000.000 đồng. N thu lời bất chính từ khoản vay này là 38.939.726 đồng.
Tổng số tiền N sử dụng vào việc cho người khác vay là 1.489.000.000đ và tổng số tiền N thu lời bất chính là 335.127.830đ.
Hành vi dùng tiền thực hiện giao dịch dân sự cho vay với lãi xuất từ 3.000đ đến 5.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương lãi xuất từ 109,5%/năm đến 182,5%/năm), lãi xuất này vượt quá từ 5,475 đến 9,125 lần so với mức lãi xuất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, hành vi đó đã cấu thành tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự". Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê L1 truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm đến hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tài chính và làm cho tình hình xã hội thêm phức tạp. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai tại phiên toà hôm nay và có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo là rất cần thiết để giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Từ tháng 6/2022 đến tháng 01/2024, bị cáo N đã cho 8 người vay tiền với lãi xuất vượt quá quy định 5 lần và trong số đó có nhiều lần thu lời trên 30.000.000đ, nên bị cáo có tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về nhân thân, tính đến lần thực hiện hành vi phạm tội này bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện nộp 50.000.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự để khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra bị cáo được UBND xã T tặng Giấy khen trong việc phòng chống COVID, nên bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng ngừa chung.
Đối với 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn N, do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ C4 cấp ngày 10/7/2023. Quá trình điều tra xác định là giấy tờ cá nhân của Nguyễn Văn N không liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của N nên Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho N là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, số IMEI: 355319541650235, lắp sim số: 0988233122; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng, số Imei 1: 355565707856533, số I: 355565707998632, bên trong lắp sim số: 0342993951; 01 máy tính bảng nhãn hiệu Ipad Air, màu xám trắng, đã qua sử dụng, số IMEI: 358102243628460; 01 chiếc Laptop nhãn hiệu ASUS VivoBook, màu bạc, đã qua sử dụng, mặt dưới Laptop có ghi dãy số 70263082; 02 quyển sổ có bìa ngoài màu xanh trắng, mặt trước bìa ngoài ghi “Giáo Án”; 01 quyển sổ có bìa ngoài màu xanh trắng, mặt trước bìa ngoài ghi “composition Book”; 01 quyển sổ có bìa ngoài màu tím, mặt trước bìa ngoài ghi “PATETERNS”; 01 quyển sổ có bìa ngoài màu đen, mặt trước và mặt sau bìa ngoài không ghi chữ và 01 tập tài liệu gồm 09 trên các tài liệu có chữ, được đánh số thứ tự từ số 01 đến số 09, gồm: 01 tờ bản sao giấy khai sinh của Lưu Thị T; 03 tờ photo giấy khai sinh của Lưu Thị T; 05 tờ photo giấy chứng minh nhân dân của Lưu Thị T. Quá trình điều tra xác định số tài sản trên là của chị Lưu Thị T – sinh năm 1996, trú tại: thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội (là vợ N) không liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của N nên Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc điện thoại trên cho chị T là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 933609, cấp ngày 24/9/2020, có dấu đỏ của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 598915, cấp ngày 18/2/2020, có dấu đỏ của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H. Quá trình điều tra xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là của ông Nguyễn Văn B – sinh năm 1950 và bà Đỗ Thị C – sinh năm 1953, đều trú tại: thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội (là bố mẹ đẻ của N) mua đất của vợ chồng anh Trần Văn S – sinh năm 1987 và chị Nguyễn Thúy H4 – sinh năm 1987, đều trú tại: Tổ F, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc không liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của N nên Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc điện thoại trên cho ông Nguyễn Văn B là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu vàng trắng, số IMEI 1: 357711911175991, số IMEI 2: 357711911239672, lắp sim số 0983993322. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại là của anh Lưu Văn T4 - sinh năm 1997; trú tại: thôn A, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội (là em vợ của N) cho N mượn để sử dụng không liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của N nên Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc điện thoại trên cho anh T4 là chủ sở hữu hợp pháp. Sau khi nhận lại tài sản anh T4 không yêu cầu đề nghị gì khác.
Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5, màu trắng, BKS 30G – 739.29; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 719397, biển số đăng ký: 30G – 739.29 mang tên Nguyễn Văn N, do Phòng C5 Công an thành phố H cấp ngày 21/12/2020 và giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 4637635, cấp ngày 27/6/2023, số phiếu kiểm định: 2927D-13436/23, có hiệu lực đến ngày: 26/5/2025. Quá trình điều tra xác định của vợ chồng ông Lưu Văn T5 – sinh năm 1974 và bà Lê Thị N1 – sinh năm 1976, đều trú tại: thôn A, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội (là bố mẹ vợ của N) nhờ N đăng ký đứng tên hộ không liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của N nên Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại những tài sản trên cho ông Lưu Văn T5 là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Tiến T3 số [...] và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 008781 mang tên Phùng Viết C2, biển kiểm soát 29Z1-478.37. Quá trình điều tra xác định giấy phép lái xe là của anh T3 đưa cho N cầm cố để vay số tiền 30.000.000 đồng và giấy tờ xe mang tên Phùng Viết C2, biển kiểm soát 29Z1-478.37 do trước đó N mượn xe và giấy tờ của anh C2 chưa trả lại nên Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại các loại giấy tờ trên cho anh Phạm Tiến T3 và anh Phùng Viết C2 là chủ sở hữu hợp pháp. Sau khi nhận lại tài sản anh T3 và anh C2 không yêu cầu đề nghị gì khác.
Đối với 01 cây máy tính để bàn màu đen, mặt trước có ghi nhãn hiệu ORIENT. Quá trình điều tra xác định là của anh Lưu Văn H5 – sinh năm 1997, trú tại: thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội nhờ Nam sửa chữa hộ không liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của N, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho anh H5 là chủ sở hữu hợp pháp. Sau khi nhận lại tài sản anh H5 không yêu cầu đề nghị gì khác.
Đối với với Lê Hồng L3– sinh năm 1996; Lưu Văn T4 – sinh năm 1997, đều trú tại: thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội và Phan Văn G – sinh năm 1998, trú tại: thôn A, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội là những người có liên quan đến nội dung đơn tố giác tội phạm. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện M đã tiến hành điều tra, xác minh xác định Lê Hồng L3, Lưu Văn T4 và Phan Văn G không có liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên không có căn cứ xem xét để xử lý theo quy định pháp luật.
[4] Khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hình phạt bổ sung đối với người phạm tội. Tuy nhiên quá trình điều tra cơ quan điều tra xác định hiện bị cáo không có công việc ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về dân sự: Đối với số tiền lãi mà bị cáo thu lời bất chính của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, được trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Xác nhận bị cáo đã nộp 50.000.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh, số tiền này được chuyển trả cho những người có quyền lời nghĩa vụ liên quan. Đối với số tiền bị cáo sử dụng cho vay lãi nặng và số tiền lãi theo quy định của pháp luật là tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và thu lời bất chính, nên truy thu sung quỹ. Đối với số tiền bị cáo cho anh Nguyễn văn H6 vay lần 4 là 30.000.000đ, anh chưa trả gốc và lãi, nên truy thu của anh để sung quỹ.
[6] Về vật chứng: Không có
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Văn N 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Căn cứ Điều 106, 135, 326, 331 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Toà án.
Về dân sự: Trả lại cho anh Nguyễn Khắc C1 70.805.482; anh Nguyễn Văn H 35.244.803đ; anh Nguyễn Thành T1 49.093.425đ; anh Nguyễn Hữu H1 103.354.110đ; anh Lưu Văn Đ 24.261.644đ; anh Nguyễn Hữu K1 8.500.000đ; anh Nguyễn Duy T2 38.939.726đ; anh Phan Văn D 809.178đ. Xác nhận bị cáo đã nộp 50.000.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh tại BL0008516 ngày 2/8/2024, số tiền này được chuyển trả cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể: Trả anh Hữu H1 16.000.000đ, anh C1 12.000.000đ, anh T1 6.190.822đ, anh T2 5.000.000đ, anh Văn H 5.000.000đ, anh Đ 3.000.000đ, anh K1 2.000.000đ, anh D 809.178đ. Truy thu của bị cáo 1.459.000.000đ là tiền bị cáo sử dụng cho vay lãi nặng và 89.954.276đ lãi theo quy để sung quỹ. Truy thu của anh Nguyễn Văn H 30.000.000đ vay lần 4 của bị cáo N và 920.547đ lãi theo quy định mà anh chưa trả cho bị cáo để sung quỹ.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần dân sự liên quan đến mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
Nơi nhân:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Quang K |
Bản án số 82/2024/HSST ngày 06/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội về hình sự sơ thẩm về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 82/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn N bị xét xử
