Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày 06 - 5 -2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Biên
  • Ông Nguyễn Văn Tư
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Hà - Kiểm sát viên

Trong ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vùi Văn C, sinh năm 1995. Tên gọi khác: Không

Nơi ĐKHK thường trú và cư trú: Bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Con ông: Vùi Văn G, sinh năm 1964; Con bà: Phạm Thị T, sinh năm 1967. Vợ: không; Con: không. Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là thứ tư.

Tiền án:

  • - Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HSST ngày 08/6/2020 của Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
  • - Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2020/HSST ngày 23/11/2020 của Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 09 (chín) tháng tù của Bản án số 32/2020/HSST ngày 08/6/2020 của Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, buộc C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù; chấp hành xong án phạt tù ngày 13/4/2023.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2016/HSST ngày 19/11/2016 của Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xoá án tích.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Hội chữ thập đỏ tỉnh Bắc Giang

Đại diện: Bà Lê Thị D – Chủ tịch Hội chữ thập đỏ

Đại diện theo ủy quyền: Bà Thân Thị Thu H – Sinh năm: 1974

Địa chỉ: Số nhà C, đường N, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1995. Địa chỉ: Thôn G, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

* Người làm chứng

1. Anh Trần Văn C1 - sinh năm: 1962. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1995. Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vùi Văn C, sinh năm 1995, trú tại Bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích. Khoảng tháng 01/2024, C đi xe khách từ huyện P, tỉnh Lai Châu đến thành phố B mục đích để tìm việc làm. Do đã tiêu hết số tiền mang theo và không có chỗ ở nên khoảng 22 giờ ngày 11/01/2024, C đi bộ vào trong sảnh nhà B Bệnh viện S nằm ngủ ở dãy ghế kê ở hành lang tầng 1.

Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 12/01/2024, C thức dậy đi vệ sinh. C đi bộ dọc hành lang tầng 1 nhà B thì phát hiện một hòm quỹ nhân đạo bằng kính, bên trong đựng nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau được đặt sát tường ở hành lang (đây là hòm quỹ nhân đạo của Chi hội Chữ thập đỏ Bệnh viện S đặt để gây quỹ từ thiện). C nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong hòm quỹ nhân đạo. Quan sát xung quanh không có người, C đi đến dùng hai tay bê chiếc hòm vào trong nhà vệ sinh nam ở tầng 1 nhà B. Thấy cửa hòm bị khoá, C tìm xung quanh và lấy một con dao ở trong thùng rác nhà vệ sinh. C thử dùng tay kéo cửa hòm thì thấy có thể mở được nên đã vứt dao xuống đất. C dùng tay trái giữ phần nắp hòm phía trên, tay phải nắm vào cạnh phía trên cửa hòm rồi kéo mạnh làm khoá bị cong, cửa hòm mở ra. C lục tìm lấy những tờ tiền mệnh giá lớn rồi cho vào trong hai túi quần đang mặc còn các tờ tiền có mệnh giá nhỏ thì C bỏ lại và không lấy. Sau khi lấy tiền, C đi bộ ra khỏi bệnh viện theo lối cổng chính rồi tiếp tục đi bộ về hướng Kho bạc tỉnh Bắc Giang. C đi vào một cây ATM ở cổng Kho bạc bỏ số tiền ra kiểm đếm được tổng số 812.000 đồng trong đó có 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và nhiều tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 10.000 đồng; 5.000 đồng và 2.000 đồng. Sau đó, C đi ra thuê xe taxi hãng M do anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995 ở xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển bảo chở đến khu công nghiệp Đ, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Trên đường đi, C nhờ anh T1 nạp cho 100.000 đồng vào số điện thoại 0362.995.xxx của C đang sử dụng. Khi đến nơi, C trả anh T1 tổng số tiền 240.000 đồng bao gồm 100.000 đồng tiền nạp điện thoại và 140.000 đồng tiền xe taxi. Số tiền còn lại, C đã ăn tiêu hết.

Khoảng 04 giờ 45 phút cùng ngày, ông Trần Văn C1 là bảo vệ của Bệnh viện S đi tuần tra và phát hiện hòm tiền quỹ nhân đạo bị cậy phá để trong nhà vệ sinh tầng 1 nhà B nên đã báo cho anh Nguyễn Văn N là bảo vệ biết sự việc. Anh N đã trình báo Công an phường D đồng thời giao nộp 01 đĩa DVD có lưu trữ 01 đoạn video trích xuất từ hệ thống camera an ninh của Bệnh viện S có ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ việc. Công an phường D đã lập biên bản sự việc và chuyển đến Cơ quan điều tra Công an thành phố B. Cơ quan điều tra đã khám nghiệm hiện trường, thu giữ 02 dấu vết đường vân trên bề mặt hòm quỹ nhân đạo. Quá trình điều tra xác định hòm quỹ nhân đạo là tài sản của Hội chữ thập đỏ tỉnh Bắc Giang do chi Hội chữ thập đỏ Bệnh viện S quản lý, mục đích để gây quỹ từ thiện.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 02 dấu vết đường vân thu giữ trên bề mặt hòm quỹ nhân đạo với dấu vết đường vân tay thu giữ của bị can C. Kết luận giám định số 508/KL-KTHS ngày 06/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • “- Dấu vết đường vân in trên ảnh ký hiệu số 1 gửi giám định so với dấu vân in ở ô “Cái phải” trên Chỉ bản số 41 do Công an thành phố B lập ngày 19/01/2024, ghi tên Vùi Văn C, sinh năm 1995, nơi thường trú Bản Nà V, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu là của cùng một người.
  • - Dấu vết đường vân in trên ảnh ký hiệu số 2 gửi giám định so với dấu vân in ở ô “Nhẫn trái” trên Chỉ bản số 41 do Công an thành phố B lập ngày 19/01/2024, ghi tên Vùi Văn C, sinh năm 1995, nơi thường trú Bản Nà V, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu là của cùng một người.”

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 01 đoạn video đã thu giữ. Kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • “1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “NRV_ch5_main_20240112020002_20240112030002.dav", dung lượng 894MB, thời lượng 59 phút 59 giây được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.
  • 2. Trích xuất được 06 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định”

Ngày 15/01/2024, Cơ quan điều tra triệu tập Vùi Văn C đến làm việc thì C xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Hphone vỏ màu đen, gắn sim số 0362.995.910; kiểm tra điện thoại thấy không có thông tin vi phạm pháp luật. Kết quả thực nghiệm điều tra tại hiện trường, C xác định đúng vị trí chiếc hòm quỹ nhân đạo trước khi trộm cắp và thực hiện thuần thục động tác phá khoá cửa hòm rồi trộm cắp tiền trong hòm như đã khai. C xác định hình ảnh trong video được trích xuất từ camera an ninh tại Bệnh viện S là C đang bê hòm tiền vào khu vực nhà vệ sinh ở tầng 1 nhà B của Bệnh viện S.

Kết quả nhận dạng qua ảnh, anh Nguyễn Văn T1 xác định C là người đã thuê xe taxi vào rạng sáng ngày 12/01/2024 để đi xuống khu công nghiệp Đ, thị xã V và nhờ anh T1 nạp tiền vào điện thoại. Kết quả kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax gắn sim số 0823.332.666 của anh Nguyễn Văn T1, tại ứng dụng Viettel Money có giao dịch thanh toán “NAP TIEN DIEN THOAI” cho khách hàng 0362995910 thời điểm 06 giờ 33 phút.

Bản cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Vùi Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang trong phần luận tội đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các chứng cứ đã thu thập được và xác định đủ căn cứ chứng minh bị cáo Vùi Văn C đã có hành vi “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 điều 173 của bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017, vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Căn cứ điểm b khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vùi Văn C từ 08 (tám) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn từ tính từ ngày 15/01/2024.
  • + Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
  • + Về trách nhiệm dân sự: không
  • + Về vật chứng: Căn cứ khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Hphone, vỏ màu đen gắn sim số 0362.995.910.
  • + Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Vùi Văn C đã khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai. Bị cáo không tranh luận gì, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về sự vắng mặt người tham gia tố tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, những người tham gia tố tụng trên đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai đầy đủ. Quá trình xét xử, Tòa án đã triệu tập hợp lệ, tại phiên tòa kiểm sát viên, bị cáo đề nghị HĐXX tiếp tục phiên tòa, HĐXX căn cứ điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vụ án.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo Vùi Văn C tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bởi các chứng cứ khác như hình ảnh camera an ninh cơ quan điều tra đã thu giữ được tại những nơi xảy ra hành vi phạm tội, kết quả thu giữ dấu vết đường vân trên bề mặt hòm quỹ nhân đạo, kết quả thực nghiệm điều tra, kết luận giám định số 508/KL-KTHS ngày 06/3/2024, kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B. Có cơ sở xác định: khoảng 02 giờ 20 phút ngày 12/01/2024, Vùi Văn C đã có hành vi trộm cắp số tiền 812.000 đồng được đặt tại hòm quỹ nhân đạo của Hội chữ thập đỏ đặt tại Bệnh viện S. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của cơ quan, tổ chức, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Mặc dù số tiền trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng do bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, nên hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ căn cứ, dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung. Do đó, VKSND thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, có bản án chưa được xóa án tích, được xác định là căn cứ định tội. Bị cáo không có tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và đã đầu thú nên được áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 của BLHS.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy đối với hành vi của bị cáo Vùi Văn C không thuộc trường hợp được hưởng án treo hay cải tạo không giam giữ, cần áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi, tội phạm đang ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội hiện nay. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, kiểm sát viên đã đề xuất tại phiên tòa HĐXX thấy là phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung:

HĐXX xét thấy bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm vụ lợi, tuy nhiên do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản, là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng khó khăn, do đó HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.

[7]. Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu H phone, vỏ màu đen gắn sim số 0362.995.910 của bị cáo đã thu giữ, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó căn cứ khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự HĐXX tuyên trả cho bị cáo.

[8]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

HĐXX quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về điều luật, mức hình phạt áp dụng:

Căn cứ điểm b khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 3 điều 106; điều 135, điều 136; điều 292; điều 293; điều 331, điều 333, điều 336, điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.

Xử phạt bị cáo Vùi Văn C 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.

[2]. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Hphone, vỏ màu đen gắn sim số 0362.995.910.

[3]. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vùi Văn C.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND, VKSND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND TP Bắc Giang;
  • - THADS TP Bắc Giang;
  • - CQĐT-CQTHAHS Công an TP Bắc Giang;
  • - UBND xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo; Những người TGTT khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vùi Văn C trộm cắp tiền của quỹ Hội chữ thập đỏ. Bị xứ phạt 09 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger