TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 82/2024/HS-PT Ngày: 04-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Kim Sang.
Ông Trần Thanh Tòng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Nguyễn Út N - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 78/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn T; do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2024/HS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo bị kháng cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1967, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); vợ là Nguyễn Thị Bé B (đã ly hôn); con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09-12-2023 đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Ông Mai Văn T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
Ngoài ra, trong vụ án này còn có người làm chứng. Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 21/8/2022, ông Trần Quốc T2 đang uống bia cùng với bị cáo Trần Văn T, ông Trần Công K, ông Phạm Anh T3 cùng một số người khác tại nhà T2 thuộc khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, T2 kể cho những người uống bia chung về việc T2 bị Công an phường A mời làm việc do T2 đã cãi nhau với bà Nguyễn Thị D vào buổi sáng và T2 nói sẽ đi đến nhà bà D hỏi lý do tại sao bà D lại báo công an. Sau đó, ông T2 một mình đi bộ đến nhà bà D để nói chuyện, do lo sợ giữa ông T2 và bà D xảy ra gây gỗ nên bà Lê Thị Ngọc D1 (vợ T2) cùng ông K đi theo phía sau để can ngăn. Khoảng 10 phút sau, bị cáo T không thấy ông T2 và mọi người quay về nên đi bộ một mình đến nhà bà D thì thấy ông T2, ông K, bà D1, bà Trần Kim P, ông Nguyễn Minh T4, Trần Kim O đang xảy ra xô xát với gia đình bà D gồm: bà D, ông Mai Văn T1, ông Mai Văn N1, ông Mai Văn H, bà Mai Thị C1 ở trên sân trước nhà bà D. Lúc này, bị cáo T nhặt lấy 01 khúc cây gỗ dài 101cm, đầu lớn có đường kính 04cm, đầu nhỏ có đường kính 02cm và có một nhánh đưa ra dài 20cm, trọng lượng 520g cầm trên tay phải đi vào. Nhìn thấy bị cáo T, bị hại Mai Văn T1 (con bà D) từ trong hàng ba nhà chạy ra, khi còn cách bị cáo T khoảng 1,5m thì bị hại T1 bị trượt chân té ngã nằm ngữa xuống sân, bị cáo T đi lại đứng phía bên chân trái của T1, cầm khúc cây gỗ trên tay phải đánh liên tiếp 03 cái trúng vào người bị hại T1, cái thứ nhất trúng vào vùng đầu phía trước bên trái gây rách da, 02 cái sau trúng vào bàn tay trái thì được mọi người can ngăn nên bị cáo T bỏ đi về; bị hại T1 được đưa đến bệnh viện X điều trị thương tích, đến ngày 27/8/2022 thì xuất viện và làm đơn yêu cầu xử lý hình sự. Trong quá trình xảy ra xô xát, bà Mai Thị C1 còn bị thương tích ở mặt trong trước cẳng chân phải, mặt trong ngoài cánh tay trái.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 40/2023/TgT ngày 21/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Mai Văn T1 do thương tích gây nên hiện tại là 03%.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 36/2023/TgT ngày 21/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Mai Thị C1 do thương tích gây nên hiện tại là 02%.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 41/2023/TgT ngày 21/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị D do thương tích gây nên hiện tại là không có quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y.
- Kết luận giám định số 311/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ C2, kết luận: Vết bám màu nâu đỏ trên khúc cây gỗ đã khô dài 101cm, đầu lớn có đường kính 04cm, đầu nhỏ có đường kính 02cm và có một nhánh đưa ra dài 20cm là máu người. Phân tích kiểu gen (ADN) từ dấu vết này được 01 kiểu gen hoàn chỉnh.
- Kết luận giám định số 585/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ C2, kết luận: Kiểu gen (ADN) của Mai Văn T1 trùng với kiểu gen trên khúc cây gỗ được lưu tại Kết luận giám định số 311/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ C2.
Về bồi thường thiệt hại: Bị hại T1 yêu cầu bồi thường số tiền 69.400.000 (sáu mươi chín triệu bốn trăm nghìn) đồng theo bảng kê đã nộp cho cơ quan điều tra. Yêu cầu Tòa án đưa ra xét xử những người đã gây thương tích cho bị hại theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 32/2024/HS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, đã xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/12/2023.
Ngoài ra bản án còn tuyên về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 07-5-2024 bị hại Mai Văn T1 có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xử lý hình sự thêm đối với Trần Quốc T2, Nguyễn Minh T4, Lê Thị Ngọc D1, Trần Kim P theo khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị hại trình bày nội dung kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra bổ sung xử lý hình sự đối với Trần Quốc T2, Nguyễn Minh T4 vì cả 03 người cùng nhau đánh bị hại, cụ thể: bị cáo T dùng cây đánh vào đầu phía sau; Nguyễn Minh T4 dùng mã tấu chém vào phía trước đỉnh đầu trái của bị hại; Trần Quốc T2 dùng cây đánh gãy đốt ngón tay trái và giữ nguyên yêu cầu bồi thường số tiền 69.400.000 đồng.
Trong phần tranh luận:
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm: Xem xét phần bồi thường của bản án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị hại không cung cấp thêm tình tiết mới. Đề nghị căn cứ Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị hại Mai Văn T1 tham gia tranh luận: Thương tích của bị hại là do 03 người gây ra, bị hại bị 03 người cùng đánh mà Tòa án xét xử có 01 bị cáo T là không đúng.
Lời nói sau cùng: Bị cáo mong được Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 07-5-2024 bị hại Mai Văn T1 có đơn kháng cáo, qua xem xét trình tự, thủ tục phù hợp quy định tại Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Quá trình điều tra thể hiện như sau: Vào sáng ngày 21-8-2022 xuất phát từ mâu thuẫn về lời qua tiếng lại giữa bà Nguyễn Thị D (mẹ ruột bị hại T1) với ông Trần Quốc T2, sau đó ông T2 bị công an mời làm việc xong, đến khoảng 17 giờ cùng ngày, trong khi đang uống rượu tại nhà ông T2 thì ông T2 có nói lại sự việc cho nhiều người nghe và đã đi bộ đến nhà bà D để hỏi chuyện. Sau khi ông T2 đi, gia đình biết và có một số người đi theo như bị cáo T, ông K, bà P, bà D1, ông T4....đến tại nhà bà D có bị hại T1, cha là ông H1, mẹ là bà D, ông N1, ông H (là anh em ruột bị hại T1).... trong lúc lời qua tiếng lại thì hai bên xông vào ẩu đã loạn xạ với nhau, hậu quả bị hại T1 bị thương tích ở vùng đầu, tay trái. Bị hại T1 được đưa đi bệnh viện cấp cứu và điều trị, tỷ lệ thương tích 03%. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
[2.1] Xét kháng cáo của bị hại, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Theo đơn kháng cáo ngày 07-5-2024 bị hại T1 cho rằng ngoài xử lý bị cáo T, yêu cầu xử lý hình sự đối với 04 người là Trần Quốc T2, Nguyễn Minh T4, Lê Thị Ngọc D1, Trần Kim P, tại phiên tòa phúc thẩm thì bị hại T1 xác định gây thương tích cho bị hại tổng cộng gồm có 03 người: ông Trần Quốc T2 dùng hung khí là cây gỗ đánh trúng vào tay trái, ông đưa tay lên đỡ thì bị gãy đốt ngón tay áp út, ông Nguyễn Minh T4 dùng mã tấu chém vào đầu phía trước bên trái, bị cáo T dùng cây gỗ đánh trúng vào đầu phía sau ót và ông T1 đã cung cấp hình ảnh, về thương tích và USB để chứng minh có 03 người đánh ông gây thương tích. Xét thấy yêu cầu của bị hai chưa thống nhất về số lượng người tham gia đánh bị hại.
[3] Qua đối chiếu các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án, tài liệu bị hại cung cấp tại cấp phúc thẩm, lời trình bày của bị hại T1 tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Công an Phường A tiếp nhận tin báo, đến hiện trường chụp ảnh toàn bộ hiện trường và thu giữ vật chứng ngay sau khi xảy ra vụ án ngày 21-8-2022. Cơ quan điều tra sau khi tiếp nhận hồ sơ tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực nghiệm hiện trường, lập biên bản xác minh, tiến hành lấy lời khai của những người tham gia ẩu đã ...... việc thu thập vật chứng vụ án và thực hiện các thủ tục tố tụng đã thực hiện theo trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3.2] Xét lời khai của bị hại T1, bà D, những người tham gia ẩu đã, chứng kiến, thấy rằng;
Xét lời khai ngày 11-02-2023 của bà D tại BL 266-267 như sau: “T2, T4, T mỗi người nhặt một khúc cây ở đống củi trên sân nhà tôi, lúc đó ẩu đả loạn xạ tôi không quan sát rõ...tôi chỉ thấy T cầm khúc cây trên tay... đánh T1 một cái trúng vùng lưng, ngay khi T vừa đánh thì thấy T4 cầm mã tấu... đi lại chém T1 một cái trúng vào đầu... ngã xuống nền gạch” Lời khai của bà D mâu thuẫn với nhau, và mâu thuẩn với T1, bà D thấy T4 cầm 01 khúc cây nhặt ở đống củi trên sân nhà bà nhưng lại thấy T4 cầm mã tấu chém T1, thấy T đánh vào lưng T1 trong khi T1 khai đánh vào phía sau ót (đầu) của T1 và bà D không thấy T2 đánh T1.
, lời khai của những người chứng kiến thể hiện không thấy rõ những ai tham Sự việc xảy ra vào lúc chiều, xung quanh khu vực xảy ra vụ án không có camera gia đánh nhau.
[3.3] Đối với tài liệu thu thập bằng hình thức dựng lại hiện trường vụ án theo lời khai của bị hại T1, của ông N1, của bà D, của bị cáo T... thì việc dựng lại hiện trường theo lời khai của bị cáo T là phù hợp với kết luận giám định số 311 ngày 08-01-2024 và kết luận giám định số 585 ngày 22-01-2024 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ C2 kết luận: “ Vết bầm màu nâu đỏ trên khúc cây gỗ gửi giám định là máu người, phân tích gen (ADN) từ vết máu này cho một kiểu gen hoàn chỉnh. Kiểu gen (ADN) của Mai Văn T1 trùng với kiểu gen trên khúc cây gỗ”. Như vậy, có căn cứ xác định máu trên khúc cây gỗ là máu của bị hại T1 và bị cáo T là người sử dụng khúc gỗ đó đánh bị hại T1, phù hợp với tư thế bị hại T1 nằm ngửa, bị cáo T đứng bên chân trái của bị hại T1 đánh từ trên đánh xuống. Do đó có căn cứ chứng minh bị cáo T là người gây thương tích cho bị hại T1. Ngoài ra, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án không có chứng cứ, tài liệu pháp lý nào chứng minh ông Nguyễn Minh T4, ông Trần Quốc T2 gây thương tích cho bị hại T1.
[3.4] Trên cơ sở đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Không có căn cứ chứng minh có đồng phạm khác gây thương tích cho bị hại T1.
[4] Đối với số tiền bồi thường: Bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các khoản bồi thường hợp lý cho bị hại T1. Nếu sau khi xét xử bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại T1 còn điều trị vết thương thì số tiền điều trị từ thương tích do bị cáo T gây ra được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[5] Đối với thương tích của bà Mai Thị C1: Xảy ra trong trường hợp khi các bên ẩu đả, bà C1 nghe thông tin chạy về và tham gia ẩu đả, bản thân bà C1 bị thương tích 02%. Cơ quan Điều tra công an thị xã T đã tách hành vi gây thương tích cho bà C1 ra giải quyết bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 170 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận và Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục xem xét trách nhiệm của tất cả những người tham gia đánh nhau để xử lý toàn diện.
[6] Án phí: Bị hại kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Mai Văn T1.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 32/2024/HS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/12/2023.
- Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Buộc bị cáo Trần Văn T có nghĩa vụ bồi thường cho ông Mai Văn T1 số tiền 38.850.000 (ba mươi tám triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Án phí phúc thẩm: Căn cứ căn điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị hại Mai văn T5 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Giang |
Bản án số 82/2024/HS-PT ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 82/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
