|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 82/2024/HS-ST
Ngày 02-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BÀ RỊA,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1 Ông Lê Văn Công
2. Bà Nguyễn Thị Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lê Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị N – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/HS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa đối với bị cáo:
NGUYỄN PHI TRƯỜNG, sinh năm 1998 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: thôn C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở hiện nay: thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Vợ là Nguyễn Thanh Ngọc A(đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020. Con ông Nguyễn Văn N1 và bà Nguyễn Thị Thu P. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/2/2024, chuyển tạm giam ngày 03/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. Có mặt
- Bị hại: Mai Bích N2, sinh năm 1988. Nơi cư trú: 37 T, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt(có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu P, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt
- Người làm chứng:
- Dương Quang T, sinh năm 1966. Nơi cư trú: 34 T, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt(có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Lê Bá T1, sinh năm 2005. Nơi cư trú:ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt(có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Đỗ Thanh Đ, sinh năm 2000. Nơi cư trú: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt
- Bùi Đức T2, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt
- Mai Văn H, sinh năm 1951. Nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 25/02/2024, Nguyễn Phi T3 cùng với Lê Bá T1 (sinh năm 2005; Nơi thường trú: ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) và Đỗ Thanh Đ (sinh năm 2000; Nơi thường trú: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) nhậu tại quán O thuộc phường L, thành phố B. Trong quá trình nhậu tại quán, T3, Đ và T1 có sử dụng loa kéo tay để hát karaoke. Thời điểm này, bà Mai Bích N2 (sinh năm 1988; trú tại: Số C đường T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu); ông Bùi Đức T2 (sinh năm 1977; nơi thường trú: khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) một số người trong gia đình N2 cũng ngồi ăn uống ở bàn kế bên nên xin hát Karaoke cùng. T3 đồng ý nên bàn của N2 chuyển qua ngồi chung với bàn T3 ăn uống và hát. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, N2 và T4 rủ nhóm T3 về nhà trọ của N2 tại địa chỉ: số C đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục nhậu.
Cả nhóm về phòng trọ của N2, dọn bàn tại khu vực vỉa hè trước nhà ngồi nhậu. N2 rủ thêm Dương Quang T (sinh năm 1966; Nơi thường trú: C T, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) (là hàng xóm của N2) nhậu chung. Cả nhóm ngồi nhậu đến khoảng 18 giờ thì T3 nói đã say và xin vào phòng trọ của N2 nằm nghỉ. Đến khoảng 21 giờ, T3 thức dậy đi vệ sinh. Thấy mọi người vẫn đang ngồi nhậu phía ngoài. T3 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T3 đi đến mở một bên tủ thì thấy có ngăn kéo bên trong nhưng bị khóa. T3 mở tủ nhựa kế bên lục tìm nhưng không có tài sản gì mà chỉ thấy ở ngăn trên cùng có chùm chìa khóa (02 chìa). T3 đem mở thử ngăn tủ khóa lúc đầu thì mở được. Khi mở cửa tủ, thấy bên trong có 01 (một) bóp màu đen, kiểm tra trong bóp có 01 (một) xấp tiền Việt Nam với nhiều mệnh giá khác nhau từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng, 01 xấp tiền Đô la M và một số giấy tờ khác. T3 lấy hết các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và tiền Đô la M; các tờ tiền mệnh giá khác thì lấy mỗi loại một ít bỏ vào hai túi quần phía trước của mình rồi để bóp lại vị trí cũ. Sau đó, T3 khóa ngăn kéo tủ lại, để chùm chìa khóa vào chỗ đã lấy và đi ra chỗ mọi người đang nhậu. T3 ngồi nhậu cùng một lát rồi đi về. Khi về nhà, T3 đếm được 100 (một trăm) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng rồi đem cất dưới nệm trong phòng ngủ; 13 tờ tiền USD mệnh giá 100 USD, T3 cất vào ví; số tiền còn lại T3 đếm được 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng). T3 đã lấy tiêu xài cá nhân hết 11.450.000 đồng. Khi cơ quan công an thi hành Lệnh giữ người khẩn cân, kiểm tra thu giữ trong ví của T3 số tiền 4.550.000 đồng; 13 (mười ba) tờ tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100USD (một trăm đô la) có số seri lần lượt là: PL19725801N, PL19725802N, PL19725803N, PL19725804N, PL19725805N, PL19725806N, PL19725807N, PL19725808N, PL19725809N, PL19725810N, PA37167894C, PA37167895C và LG69906589B.
Tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Phi T3 thu giữ: 100 (một trăm) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 115/KL-HĐĐGTS ngày 20/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố B kết luận 1300 USD (một nghìn ba trăm đô la Mỹ) trị giá 31.791.500 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Phi T3 khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài tài sản của mình như trên.
- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
+ Số tiền 54.550.000 đồng (gồm 50.000.000đ thu giữ khi khám xét; 4.550.000đ đồng thu giữ trên người Nguyễn Phi T3); 13 (mười ba) tờ tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100USD (một trăm đô la) có số seri lần lượt là: PL19725801N, PL19725802N, PL19725803N, PL19725804N, PL19725805N, PL19725806N, PL19725807N, PL19725808N, PL19725809N, PL19725810N, PA37167894C, PA37167895C và LG69906589B. Ngày 20/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an T đã ra Quyết định số 404/QĐ-ĐCSHS xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị Mai Bích N2. Chị N2 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
- Phần dân sự: Bà Nguyễn Thị Thu P là mẹ ruột của bị can Nguyễn Phi T3 đã bồi thường cho bị hại Mai Bích N2 số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng); bà P không yêu cầu T3 trả lại số tiền trên.
Tại bản Cáo trạng số 89/CT-VKSBR ngày 12-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Phi T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: không xét đến
Tại phiên tòa, trong lời nói sau cùng bị cáo thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì thêm mà chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp lời khai bị hại, kết luận giám định và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa có cơ sở xác định:
Vào khoảng 21 giờ ngày 25/02/2024 ở nhà trọ của bị hại Mai Bích N2 tại số C T, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bị cáo Nguyễn Phi T3 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 66.000.000đ và 13 tờ đô la Mỹ mệnh giá 100USD trị giá 31.791.500đ. Tổng cộng là:97.791.500đ(Chín mươi bảy triệu, bảy trăm chín mươi mốt ngàn, năm trăm đồng) của bị hại Mai Bích N2. Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Phi T3 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ tuật hình sự
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn bãi nại đề nghị đình chỉ giải quyết vụ án. Áp dụng theo điểm b,s theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bị cáo bồi thường thiệt hại và không có ý kiến gì thêm nên không xét đến.
- Về xử lý vật chứng: Không xét đến
- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi T3 02(hai) năm 10(mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/02/2024.
- Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Phi T3 phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm (Đối với người vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Anh |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phi Trường-Trộm cắp tài sản
