Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2025/KDTM-PT Ngày: 15-4-2025

V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Quỳnh Trâm

Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Đoan Trang

Bà Vũ Thị Hường

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: bà Đinh Thanh Bình – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15-4-2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 275/2024/TLPT-KDTM ngày 27-12-2024, về việc “tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2024/KDTM-ST ngày 27-9-2024 của Toà án nhân dân quận Gò Vấp bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 695/2025/QĐ-PT ngày 18-02-2025; Quyết định hoãn phiên toà số 3470/2025/QĐ-PT ngày 19-3-2025; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH T2

Địa chỉ: C H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: ông Nguyễn Thái T, sinh năm 1978; địa chỉ: Số 1 đường số A, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 07-12-2023) (vắng mặt)

Bị đơn: Công ty Cổ phần X

Địa chỉ: Số C Đường số B, Khu dân cư C, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của Bị đơn: ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 17/GUQ-VQ ngày 18-3-2025) (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Luật sư Phan Thanh B, Công ty L – Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Vĩnh P, sinh năm 1977

Địa chỉ: D chung cư T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

Người kháng cáo: Công ty Cổ phần X;

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp kháng nghị, Quyết định kháng nghị số 09/QĐ-VKS-KDTM ngày 11-10-2024.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, Công ty TNHH T2 có người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Thái T trình bày:

Ngày 15-11-2022, Công ty TNHH T2 (sau đây gọi tắt Công ty T2) ký hợp đồng số 233/2022/VQ-KP thi công xây dựng dự án gồm các hạng mục cung cấp vật tư và thi công bả mastic, sơn nước hoàn thiện do Công ty Cổ phần X (sau đây gọi tắt Công ty X) là đơn vị tổng thầu và giao lại cho Công ty T2. Trong đó giá trị thi công công trình đợt 8 đã được Công ty X xác định, duyệt thanh toán căn cứ vào khối lượng thực tế thi công theo đơn giá đã nghiệm thu, xác nhận và đóng dấu ngày 30-5-2023 giữa hai bên là 1.683.155.396 đồng, Công ty X đã thanh toán một phần của đợt 8 là 300.000.000 đồng, còn nợ là 1.383.155.396 đồng.

Tuy nhiên, kể từ khi hồ sơ đã được hai bên xác nhận ký tên đóng dấu, Công ty X vẫn không thanh toán số nợ còn lại của đợt 8 cho Công ty T2, trái với quy định tại Điều 4.3 thời hạn thanh toán hợp đồng số 233/2022/VQ-KP ký ngày 15-11-2022 thì thời gian bên A thanh toán cho bên B trong năm ngày làm việc kể từ khi bên B gửi đầy đủ hồ sơ thanh toán hợp lệ.

Công ty T2 có thông báo với chỉ huy công trình và lãnh đạo Công ty X (bằng điện thoại) nếu không thanh toán đợt 8 thì ngày 15-6-2023, Kiến P1 sẽ tạm dừng không thực hiện tiếp. Ngày 15-6-2023, Kiến P1 không còn thực hiện thi công và đã xác nhận khối lượng công trình, những hàng tồn kho để bàn giao cho chỉ huy công trình trong cùng ngày, có chỉ huy phó và chỉ huy trưởng công trình của Công ty X ký xác nhận.

Hai bên có thỏa thuận miệng từ sau ngày 15-6-2023, công nhân Công ty T2 vẫn ở lại tiếp tục công việc thi công, nhưng Kiến P1 không trả tiền nhân công mà do Công ty X trả tiền nhân công. Như vậy, từ ngày 15-6-2023, chính thức Công ty T2 không còn thi công cho Công ty X nữa, hai bên chấm dứt hợp đồng số 233/2022/VQ-KP. Công ty T2 đã làm hồ sơ thanh quyết toán gửi cho Công ty X và ngày 09-8-2023, hai bên làm việc trực tiếp có lập biên bản thống nhất Công ty X lập bảng xác nhận khối lượng để từ ngày 15-9-2023 đến ngày 20-9-2023, P.QLCP&HĐ sẽ chốt hồ sơ quyết toán. Sau đó, các bên có thêm các cuộc họp khác nhưng không lập biên bản làm việc và không chốt được việc thanh lý.

Nay, Công ty T2 khởi kiện yêu cầu Công ty X phải thanh toán tiếp số tiền

giá trị công trình đợt 8 còn nợ là 1.383.155.396 đồng.

Đối với yêu cầu phản tố của Công ty X, Công ty T2 không đồng ý, vì:

Chi phí vật tư khấu trừ từng phần và khi quyết toán nhưng hiện tại hai bên chưa quyết toán nên chưa phải thanh toán, thực tế khấu trừ từng phần thì nguyên đơn đã khấu trừ rồi với số tiền 2.107.780.000 đồng theo đúng văn bản ngày 10-01-2023 có xác nhận của Tổng giám đốc Công ty X ông Trần Vĩnh P. Từ đợt 1 đến đợt 8 của quá trình thực hiện hợp đồng số 233/2022/VQ-KP, tổng giá trị vật tư Công ty X mua hộ cho Công ty T2 là 4.057.812.056 đồng, khi Bảng tổng hợp giá trị khối lượng đề ngày 30-5-2023 của Đợt 8 (từ ngày 15-5-2023 đến ngày 30-5-2023), giá trị vật tư Công ty X đã đồng ý cho Công ty T2 khấu trừ trước 1.300.000.000 đồng nên Công ty X có ký tên, đóng dấu vào Bảng tổng hợp giá trị khối lượng. Trước đợt 8 số tiền vật tư Công ty T2 đã thanh toán cho Công ty X là 807.780.000 đồng, tổng cộng đã thanh toán 2.107.780.000 đồng. Sau ngày 30-5-2023, Công ty X còn đang giữ của Công ty T2 2.004.309.201 đồng 10% giá trị từng đợt, nên Công ty T2 không đồng ý trả số tiền vật tư còn lại cho Công ty X. Tại phiên toà, đại diện Công ty T2 có ý kiến là cấn trừ tiền vật tư còn thiếu vào 10% giá trị hợp đồng mà bên Công ty X đang giữ là 2.004.309.201 đồng, căn cứ nội dung Công văn ngày 10-01-2023 có thoả thuận phần này.

Chi phí quản lý dựa trên Công văn ngày 10-01-2023, được tính là 1,5% của số tiền vật tư, chỉ tính khi quyết toán toàn bộ công trình, do hai bên chưa quyết toán nên Công ty T2 chưa có nghĩa vụ phải trả số tiền này cho Công ty X. Tại phiên tòa, đại diện Công ty T2 đồng ý trả số tiền này cho Công ty X.

Chi phí G, Công ty X cũng chưa cung cấp cho Công ty T2 biết chi phí là bao nhiêu, tuy nhiên trước đây hai bên thỏa thuận tổng chi phí Gondola hết 192.000.000 đồng cho cả hợp đồng 233/2022/VQ-KP, chứng minh thông qua Bảng tổng hợp giá trị khối lượng đề ngày 22-12-2022 có hai bên ký tên, đóng dấu thể hiện toàn bộ chi phí Gondola là 192.000.000 đồng nên tổng giá trị hợp đồng là 16.161.511.411 đồng. Hai bên không có thỏa thuận nào khác là tính trên chi phí phát sinh thực tế. Do đã tính chi phí ngay từ khi ký hợp đồng thi công nên Công ty T2 không có nghĩa vụ phải trả cho Công ty X số tiền này nữa.

Chi phí khấu trừ khác không có thỏa thuận, không có thông báo nào do Công ty X gửi cho Công ty T2 thống nhất chi phí này.

Theo đơn phản tố và quá trình giải quyết vụ án, Công ty Cổ phần X có người đại diện hợp pháp là ông Phan Thanh B trình bày:

Ngày 15-11-2022, Công ty Cổ phần X (gọi tắt là Công ty X) và Công ty T2 đã ký Hợp đồng thi công công trình số 233/2022/VQ-KP theo đó Công ty X giao cho Công ty T2 cung cấp vật tư và thi công bả mastic, sơn nước hoàn thiện bên trong và bên ngoài nhà cho công trình khu C, giá trị hợp đồng tạm tính là 16.161.511.410 đồng. Trong quá trình thi công, Công ty T2 có đề nghị Công ty X cung cấp vật tư: bột bả Mastic, sơn lót, sơn phủ và sẽ khấu trừ vào các đợt thanh toán.

Phương thức thanh toán theo khoản 4.2 Điều 4 của hợp đồng: tạm ứng hợp

đồng 02 đợt với số tiền 2.992.872.484 đồng. Sau đó hàng kỳ mỗi tháng 02 lần ban chỉ huy công trình bên A sẽ nghiệm thu xác nhận khối lượng vật tư, nhân công, vật tư, Bên A sẽ tạm thanh toán cho Bên B 90% giá trị khối lượng thực hiện sau khi đã khấu trừ các khoản tạm ứng/mua dùm/trả thay/phạt.

Hồ sơ thanh toán theo khoản 4.4 Điều 4 của hợp đồng: Biên bản nghiệm thu khối lượng, chất lượng hàng kỳ có xác nhận của BCHCT bên A; Biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào sử dụng có xác nhận của chủ đầu tư (cho đợt thanh quyết toán); Phiếu giá, quyết toán khối lượng thực hiện; Hóa đơn giá trị gia tang (GTGT) theo giá trị thực hiện cho các đợt tạm ứng và thanh toán; thư đề nghị tạm ứng và thanh toán của Bên B.

Trong quá trình thi công để đảm bảo tiến độ thi công nên mặc dù hồ sơ thanh toán của Công ty T2 chưa đầy đủ theo hợp đồng và theo hợp đồng thì công ty X sẽ tạm ứng 90% khối lượng thực hiện nên nhưng Công ty X đã linh hoạt thanh toán cho Công ty T2 số tiền 14.350.528.609 đồng khi chưa trừ hết các khoản phải khấu trừ như vật tư, chi phí thuê G, chi phí quản lý, bao gồm 8 đợt như sau:

  • Đợt 1: 1.820.058,338 đồng;
  • Đợt 2: 1.212.028.923 đồng;
  • Đợt 3: 2.648.474.967 đồng;
  • Đợt 4: 976.928.880 đồng;
  • Đợt 5: 3.917.690.123 đồng;
  • Đợt 6: 2.113.128.818 đồng;
  • Đợt 7: 1.362. 218.561 đồng;
  • Đợt 8: 300.000.000 đồng.

Ngày 15-9-2023, Công ty T2 có Công văn số 11/CVKP-VQ nội dung các chi phí Công ty T2 phải thanh toán cho Công ty X gồm: chi phí vật tư sơn nước là 4.057.812.056 đồng (chưa thuế VAT), chi phí thuê G: 192.000.000 đồng và chi phí quản lý: 60.867.180 đồng.

Từ ngày 15-6-2023, Công ty T2 tự đơn phương rút khỏi công trường, Công ty T2 không tiếp tục thi công khoảng giữa tháng 6-2023. Công ty X yêu cầu tiếp tục thực hiện nhưng Công ty T2 thông báo không đủ năng lực thực hiện tiếp, gây thiệt hại cho Công ty X (không có văn bản, chỉ là trao đổi giữa hai bên). Sau đó, hai bên có gặp nhau thỏa thuận nhưng không đạt kết quả, hai bên chưa chốt được khối lượng, chi phí liên quan, chi phí bồi thường nên chưa quyết toán được hợp đồng.

Đối với yêu cầu thanh toán tiền đợt 8 còn thiếu của Công ty T2, Công ty X chỉ đồng ý khi Công ty T2 giải quyết yêu cầu phản tố của Công ty X. Theo Công văn số 11 ngày 15-9-2023 của Công ty T2 đã xác nhận chi phí chưa thanh toán bao gồm chi phí vật tư, chi phí quản lý, chi phí Gondola nhưng số liệu chưa đúng thực tế. Yêu cầu phản tố trên số liệu thực hiện thực tế (không có tài liệu

chứng cứ nào khác thể hiện thỏa thuận của hai bên):

  • Khấu trừ chi phí vật tư 4.057.812.056 đồng, thuế giá trị gia tăng VAT 405.781.205 đồng, trừ đi 2.107.780.000 đồng đã thanh toán, còn lại 2.355.813.261 đồng.
  • Chi phí quản lý 96.395.224 đồng theo Mục 1.2 Điều 1 của Hợp đồng thi công công trình ngày 15-11-2022.
  • Chi phí khấu trừ khác 42.217.000 đồng + VAT 4.221.700 đồng = 46.438.700 đồng theo Mục 7.2 Điều 7 của Hợp đồng thi công công trình.
  • Chi phí Gondola 281.572.043 đồng + VAT 28.175.204 đồng = 309.927.247 đồng, theo Mục 7.1 Điều 7 của Hợp đồng thi công công trình.

Tại phiên toà, Công ty X đồng ý trả số tiền thi công đợt 8 còn thiếu là 1.383.155.396 đồng. Công ty X có yêu cầu phản tố, yêu cầu Công ty T2 trả tiền vật tư còn thiếu 2.141.648.420 đồng, chi phí quản lý 60.867.180 đồng, chi phí Gondola 192.000.000 đồng, rút yêu cầu chi phí khấu trừ khác 46.438.700 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Vĩnh P trình bày:

Theo Giấy ủy quyền số 014/GUQ-VQ ngày 20-10-2022 do Chủ tịch Hội đồng quản trị ký, ông là Tổng giám đốc Công ty X có ký hợp đồng thi công công trình số 233/2022/VQ-KP ngày 15-11-2022 với Công ty T2.

Quá trình thực hiện hợp đồng:

Từ phiếu giá (bảng tổng hợp giá trị khối lượng từng đợt) đợt 1 đến đợt 7 là do ông ký và đã được Công ty X thanh toán đúng theo bảng tổng hợp giá trị khối lượng.

Ông có ký xác nhận trên Công văn ngày 10-01-2023 với nội dung “đồng ý cung cấp vật tư và khấu trừ từng phần, chi phí quản lý Việt Quang là 1,5% giá trị vật tư Việt Quang cung cấp, sẽ đưuọc khấu trừ khi quyết toán”.

Bảng tổng hợp giá trị khối lượng đợt 8 ngày 30-5-2023 do ông Tạ Việt H ký tên và đóng dấu, theo đó trách nhiệm và quyền hạn thực hiện tiếp diễn hợp đồng thuộc về Công ty X và người đại diện theo pháp luật là ông Tạ Việt H.

Dù không còn làm tại Công ty X nhưng ông vẫn được Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty X mời về dự họp giữa hai Công ty T2 và Công ty X. Ngày 31-8-2023, Công ty T2 đã gửi hồ sơ quyết toán cho Công ty X.

Tại phiên tòa, ông P trình bày Công văn ngày 10-01-2023 của Công ty T2, ông có ghi và ký tên, không ghi họ tên, không đóng dấu Công ty X, tuy nhiên, lúc đó ông là Tổng Giám đốc, ông có quyền điều hành tất cả hoạt động của Công ty nên có giá trị pháp lý ghi nhận sự thỏa thuận của hai Công ty. Theo Công văn ngày 10-01-2023, có thỏa thuận nào khác với đề xuất của Công ty T2 thì ông đã viết tay, còn các nội dung khác trong công văn này được giữ nguyên. Chi phí G, Công ty X không giao cho Công ty T2, Công ty X giữ lại, thể hiện trong bảng dự toán kèm theo hợp đồng thi công.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2024/KDTM-ST ngày 27-9-2024 của Toà án nhân dân quận Gò Vấp đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T2:

    Công ty Cổ phần X phải trả cho Công ty TNHH T2 số tiền thi công đợt 8 thực hiện từ ngày 15-5-2023 đến ngày 30-5-2023 còn nợ là 1.383.155.396 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần X:

    Công ty TNHH T2 trả cho Công ty Cổ phần X số tiền vật tư mua hộ còn thiếu là 137.339.219 đồng, chi phí quản lý là 60.867.180 đồng, chi phí Gondola là 192.000.000 đồng, tổng cộng là 390.206.399 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

  3. Đình chỉ giải quyết giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần X yêu cầu Công ty TNHH T2 trả chi phí khấu trừ khác là 46.438.700 đồng.
  4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

    Công ty Cổ phần X phải nộp án phí là 53.494.662 đồng, cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 44.085.744 đồng theo Biên lai thu số 0012730 ngày 12-3-2024 của Chi cục Thi hành dân sự quận G. Công ty Cổ phần X còn phải nộp 9.408.918 đồng.

    Công ty TNHH T2 phải nộp án phí là 19.510.320 đồng, cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 26.747.331 đồng theo Biên lai thu số 0012933 ngày 23-11-2023 của Chi cục Thi hành dân sự quận G. Trả lại Công ty TNHH T2 số tiền 7.237.011 đồng.

Ngoài ra, Bản án còn quyết định về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án của đương sự.

Sau khi Toà án nhân dân quận Gò Vấp xét xử,

Ngày 10-10-2024, Công ty Cổ phần X có Đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm; đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng buộc Công ty T2 phải thanh toán cho Công ty X tổng cộng là 2.394.515.600 đồng; xác định lại nghĩa vụ án phí mà Công ty X phải chịu.

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp có Quyết định kháng nghị số 09/QĐ-VKS-KDTM ngày 11-10-2024, kháng nghị sửa một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Ý kiến của bị đơn: Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án sơ thẩm theo hướng không giải quyết phần cấn trừ 10% giá trị khối lượng thực hiện theo Hợp đồng mà Bị đơn đang còn giữ của Nguyên đơn do Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết trong vụ kiện này.

Ý kiến của Nguyên đơn: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn; đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và kháng cáo của bị đơn; căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2024/KDTM-ST ngày 27-9-2024 của Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng huỷ phần giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và sửa một phần án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Tại phiên toà, các bên đương sự không tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút kháng cáo, Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không rút kháng nghị nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Công ty T2 khởi kiện bị đơn Công ty X yêu cầu trả tiền thi công theo Hợp đồng số 233/2022/VQ-KP ngày 15-11-2022. Đây là tranh chấp về hợp đồng xây dựng, phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận; Bị đơn có trụ sở tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên Toà án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Ngày 27-9-2024, Toà án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm, Bị đơn có mặt tại phiên toà. Ngày 11-10-2024, Toà án nhân dân quận Gò Vấp nhận được Đơn kháng cáo đề ngày 10-10-2024 của Bị đơn. Ngày 11-10-2024, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp ban hành Quyết định kháng nghị số 09/QĐ-VKS-KDTM, kháng nghị một phần bản án sơ thẩm. Xét kháng cáo, kháng nghị còn trong thời hạn luật định, hợp lệ nên Toà án nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[3] Xét thấy, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên toà số 3470/2025/QĐ-PT ngày 19-3-2025, Giấy triệu tập phiên toà ngày 15-4-2025; tuy nhiên người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do đó hội đồng xét xử xét xử vắng mặt Nguyên đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[4] Ngày 15-11-2022, Nguyên đơn và Bị đơn ký kết Hợp đồng thi công công trình số 233/2022/VP-KP, theo đó Bị đơn giao cho Nguyên đơn thi công bả mastic, sơn nước hoàn thiện bên trong và bên ngoài nhà cho công trình khu C, tổng giá trị hợp đồng là 16.161.511.410 đồng. Thực hiện Hợp đồng, Nguyên đơn đã thi công được 8 đợt, đến ngày 15-6-2023, Nguyên đơn rút khỏi công trình, không tiếp tục thi công. Nguyên đơn xác nhận, giá trị công trình đợt 8 đã được Bị đơn duyệt thanh toán ngày 30-5-2023 là 1.683.155.396 đồng, Bị đơn đã thanh toán 300.000.000 đồng thì ngưng nên Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn thanh toán số tiền còn lại là 1.383.155.396 đồng. Bị đơn xác nhận còn nợ Nguyên đơn 1.383.155.396 đồng và có yêu cầu phản tố, quá trình thi công do không đủ năng lực tài chính nên Nguyên đơn có đề nghị Bị đơn cung cấp vật tư: bột bả mastic, sơn lót, sơn phủ và sẽ khấu trừ vào các đợt thanh toán. Thực tế, Bị đơn đã thanh toán cho Nguyên đơn 90% giá trị khối lượng công việc thực hiện tương ứng 14.350.528.609 đồng khi chưa trừ hết các khoản khấu trừ Bị đơn đã cung cấp trong 8 đợt thi công. Tại cấp sơ thẩm Nguyên đơn và Bị đơn xác nhận phần chi phí vật tư mua hộ Nguyên đơn chưa khấu trừ cho Bị đơn là 2.141.648.420 đồng; Chi phí quản lý là 60.867.180 đồng; Chi phí Goldola là 192.000.000 đồng. Do đó cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc Bị đơn trả cho Nguyên đơn 1.383.155.396 đồng và chấp nhận yêu cầu phản tố của Bị đơn buộc Nguyên đơn phải thanh toán các chi phí khấu trừ yêu cầu phản tố của Bị đơn ngày 26-01-2024, tổng cộng 2.394.515.600 đồng là có cơ sở.

[5] Xét thấy, tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Công ty T2 có ý kiến cấn trừ tiền vật tư còn thiếu vào 10% giá trị hợp đồng mà bên Công ty X đang giữ là 2.004.309.201 đồng; tuy nhiên theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và trình bày của người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn tại phiên toà (bút lục 664, 665, 666); Nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu Bị đơn thanh toán số tiền thi công công trình đợt 8 còn thiếu là 1.383.155.396 đồng; không yêu cầu Bị đơn quyết toán Hợp đồng số 223/2022/VQ-KP ngày 15-11-2022 và hoàn trả cho Nguyên đơn phần giá trị giữ lại 10%. Mặc dù Nguyên đơn không có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu nhưng cấp sơ thẩm vẫn xét xử buộc Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho Nguyên đơn 10% giá trị hợp đồng đang giữ, tương ứng 2.004.309.201 đồng và cấn trừ vào chi phí vật tư 2.141.648.420 đồng mà Nguyên đơn phải trả cho Bị đơn theo yêu cầu phản tố của Bị đơn là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

[6] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”. Do đó, có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kháng cáo của Bị đơn; Hội đồng xét xử huỷ một phần bản án sơ thẩm đối với việc cấn trừ 10% giá trị khối lượng theo hợp đồng thi công, tương ứng 2.004.309.201 đồng mà Bị đơn đang giữ của Nguyên đơn. Như vậy, sau khi bù trừ nghĩa vụ của các bên theo yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và yêu cầu phản tố của Bị đơn, Nguyên đơn có trách nhiệm trả cho Bị đơn 2.394.515.600 đồng - 1.383.155.396 đồng = 1.011.360.204 đồng.

[7] Trường hợp các bên có tranh chấp liên quan đến 10% giá trị khối lượng theo hợp đồng thi công nói trên thì sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

[8] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Xét thấy, tại Mục [3] Phần Nhận định của Bản án, cấp sơ thẩm xác định Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm là 19.510.320 đồng, tuy nhiên tại Mục số [4] Phần Quyết định của Bản án, cấp sơ thẩm xác định Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm là 72.217.985 đồng và cấn trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 26.747.331 đồng, hoàn trả cho Nguyên đơn 7.237.011 đồng là không chính xác và không đúng quy định về nghĩa vụ chịu án phí của đương sự tại khoản 2, 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Do đó, có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp. Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm là 79.890.000 đồng; Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm là 53.494.662 đồng.

[9] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên Bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng cho Bị đơn.

[10] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần X; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Huỷ một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2024/KDTM-ST ngày 27-9-2024 của Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Luật Thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T2:

    Buộc Công ty Cổ phần X trả cho Công ty TNHH T2 số tiền thi công Đợt 8 thực hiện từ ngày 15-5-2023 đến ngày 30-5-2023 còn nợ là 1.383.155.396 (một tỷ, ba trăm tám mươi ba triệu, một trăm năm mươi lăm ngàn, ba trăm chín mươi sáu) đồng.

  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần X:

    Buộc Công ty TNHH T2 trả cho Công ty Cổ phần X số tiền vật tư mua hộ còn thiếu là 2.141.648.420 (hai tỷ, một trăm bốn mươi mốt triệu, sáu trăm bốn mươi tám ngàn, bốn trăm hai mươi) đồng, chi phí quản lý là 60.867.180 (sáu mươi triệu, tám trăm sáu mươi bảy ngàn, một trăm tám mươi) đồng, chi phí G là 192.000.000 (một trăm chín mươi hai triệu) đồng, tổng cộng là 2.394.515.600 (hai tỷ, ba trăm chín mươi bốn triệu, năm trăm mười lăm ngàn, sáu trăm) đồng.

    Sau khi bù trừ nghĩa vụ của các bên, Công ty TNHH T2 có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần X 1.011.360.204 (một tỷ, không trăm mười một triệu, ba trăm sáu mươi ngàn, hai trăm lẻ bốn) đồng.

    Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

  3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần X về việc buộc Công ty TNHH T2 phải trả chi phí khấu trừ khác là 46.438.700 (bốn mươi sáu triệu, bốn trăm ba mươi tám ngàn, bảy trăm) đồng.
  4. Huỷ phần giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T2 về việc cấn trừ 10% giá trị khối lượng theo hợp đồng thi công số 233/2022/VQ-KP ngày 15-11-2022, tương ứng 2.004.309.201 (hai tỷ, không trăm lẻ bốn triệu, ba trăm lẻ chín ngàn, hai trăm lẻ một) đồng vào chi phí vật tư 2.141.648.420 (hai tỷ, một trăm bốn mươi mốt triệu, sáu trăm bốn mươi tám ngàn, bốn trăm hai mươi) đồng mà Công ty TNHH T2 còn nợ Công ty Cổ phần X.
  5. Về án phí kinh doanh thương mại:
    • - Án phí sơ thẩm:

      Công ty Cổ phần X phải nộp án phí là 53.494.662 (năm mươi ba triệu, bốn trăm chín mươi bốn ngàn, sáu trăm sáu mươi hai) đồng, nhưng được cấn trừ vào

tiền tạm ứng án phí đã nộp 44.085.744 (bốn mươi bốn triệu, không trăm tám mươi lăm ngàn, bảy trăm bốn mươi bốn) đồng theo Biên lai thu số 0012730 ngày 12-3-2024 của Chi cục Thi hành dân sự quận G. Công ty Cổ phần X còn phải nộp 9.408.918 (chín triệu, bốn trăm lẻ tám ngàn, chín trăm mười tám) đồng.

Công ty TNHH T2 phải nộp án phí là 79.890.000 (bảy mươi chín triệu, tám trăm chín mươi ngàn) đồng, nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 26.747.331 (hai mươi sáu triệu, bảy trăm bốn mươi bảy ngàn, ba trăm ba mươi mốt) đồng theo Biên lai thu số 0012933 ngày 23-11-2023 của Chi cục Thi hành dân sự quận G. Công ty TNHH T2 còn phải nộp số tiền 53.142.669 (năm mươi ba triệu, một trăm bốn mươi hai ngàn, sáu trăm sáu mươi chín) đồng.

- Án phí phúc thẩm:

Công ty Cổ phần X không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho Công ty Cổ phần X số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0014880 ngày 25-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - TAND quận Gò Vấp;
  • - Cục THADS TP. HCM
  • - Chi cục THADS quận Gò Vấp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trương Thị Quỳnh Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2025/KDTM-PT ngày 15/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng

  • Số bản án: 82/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhân một phần yc khởi kiện, chấp nhận yc phản tố
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger