Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 82/2025/HSST

Ngày: 16/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đính

Ông Nguyễn Duy Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Huế - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

  • - Lương Thanh B, sinh năm 1975, tại Bình Dương.
  • Nơi cư trú: Số C đường B, khu phố F, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn H, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1958; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1988; Con: Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án – Tiền sự: Không.
  • Ngày 26/3/2025 bị khởi tố về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bị bắt tạm giam từ ngày 26/3/2025 đến ngày 04/4/2025. Bị cáo được thay thế biện pháp ngăn chặn, cho bảo lĩnh từ ngày 04/4/2025 đến nay.
  • Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Ông Phạm Cao Đ, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Tổ H, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2022, Lương Thanh Bình T1 thuê xe ô tô của ông Phạm Cao Đ, sinh năm 1978, nơi cư trú: Tổ H, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước để sử dụng nên quen biết nhau.

Ngày 23/07/2022, B đến nhà gặp ông Đ thỏa thuận ký hợp đồng thuê 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Zace-GL, biển số 93A-094.10, số khung: KF36907266, số máy: 7K0654952 với giá 10.000.000 đồng/1 tháng, thời hạn thuê từ ngày 23/7/2022 đến ngày 23/8/2022 (BL 46). Hết thời hạn thuê xe, ông Đ gọi điện thoại yêu cầu B đến trả lại hoặc ký hợp đồng tiếp tục thuê xe ô tô biển số 93A-094.10. B nói đang bận làm công trình xây dựng ở Bù Đốp nên thỏa thuận miệng tiếp tục thuê xe ô tô biển số 93A-094.10 và hẹn ông Đ ký hợp đồng sau thì ông Đ đồng ý. Bình thường xuyên mua vật liệu xây dựng tại huyện B của gia đình chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1993, nơi đăng ký thường trú: D, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, nơi ở hiện tại: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước nên quen biết nhau. Ngày 14/9/2022, B đến nhà của chị H1, địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước hỏi vay tiền nhưng chị H1 không đồng ý vì trước đó đã cho B vay số tiền 16.000.000 đồng nhưng chưa trả. Lúc này, B nảy sinh ý định chiếm đoạt xe ô tô biển số 93A-094.10 của ông Đ cầm cố cho chị H1 để vay tiền. B nói với chị H1 xe ô tô biển số 93A-094.10 do B là chủ sở hữu và muốn cầm cố để vay số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng). Do thường xuyên nhìn thấy B sử dụng xe ô tô biển số 93A-094.10 nên chị H1 tin tưởng đồng ý nhận cầm cố cho B vay số tiền 70.000.000 đồng. B đang nợ tiền mua vật liệu xây dựng của gia đình chị H1 nên chị H1 trừ nợ số tiền 6.300.000 đồng rồi chuyển vào tài khoản ngân hàng S cá nhân của B số tiền 63.700.000 đồng (BL47, 81). Sau khi vay tiền, B sử dụng tiêu xài cá nhân. Sau đó, do B không có tiền trả cho chị H1 để chuộc lại xe ô tô biển số 93A-094.10 nên đã không liên lạc với ông Đ và bỏ trốn nhiều nơi.

Đến khoảng đầu tháng 11/2022, ông Đ không thấy B đến trả xe hoặc tiếp tục ký hợp đồng thuê xe ô tô biển số 93A-094.10 nên gọi điện thoại cho B nhưng không liên lạc được. Lúc này, ông Đ kiểm tra thiết bị định vị phát hiện xe ô tô biển số 93A-094.10 đang dừng đỗ tại cửa hàng kinh doanh đồ cũ và hàng thanh lý “Khánh Linh 2”, địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. Ông Đ tìm và gọi điện thoại cho chồng của chị H1 là anh Đỗ Đức V, sinh năm 1993, chủ cửa hàng kinh doanh đồ cũ và hàng thanh lý “Khánh Linh 2” thì được biết B đã cầm cố xe ô tô biển số 93A-094.10 cho chị H1. Ngày 16/11/2022, ông Đ đến Công an phường M tố giác B chiếm đoạt xe ô tô biển số 93A-094.10. Công an phường M tiếp nhận tố giác về tội phạm, lập hồ sơ ban đầu. Ngày 22/11/2022, Công an phường M chuyển tố giác đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã tiếp nhận xác minh, giải quyết theo thẩm quyền (BL 79-82 lời khai bị hại ông Đ, BL 83-86 lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị H1, BL 72-78 lời khai bị cáo B).

Ngày 25/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã C đã thu hồi xe ô tô, biển số 93A-094-10 trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Phạm Cao Đ (BL 42-45).

Ngày 03/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã C đã ra Quyết định truy tìm người số 05 đối với Lương Thanh B (BL 61).

Ngày 25/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã truy tìm và làm việc được với Lương Thanh B. Tại Cơ quan điều tra, B khai nhận hành vi như đã nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KLĐG-HĐĐGTS ngày 06/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C xác định xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Zace-GL, biển số 93A-094.10, số khung: KF36907266, số máy: 7K0654952 đã qua sử dụng tại thời điểm xảy ra vụ án trị giá 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng) (BL 41).

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Phạm Cao Đ yêu cầu bị cáo Lương Thanh B bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tiền sửa chữa xe ô tô biển số 93A-094.10 bị hư hỏng do để lâu không sử dụng. Gia đình của bị cáo B đã thay bị cáo B bồi thường cho bị hại Đ số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Ông Đ không yêu cầu bồi thường gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra (BL 59).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 yêu cầu bị cáo B trả lại chị H1 số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) đã vay từ việc cầm cố xe ô tô biển số 93A-094.10. Gia đình của bị cáo B đã thay bị cáo B bồi thường cho chị H1 số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng). Chị H1 không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra (BL 60).

Cáo trạng số: 75/CT-VKSCT ngày 28/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành: Truy tố Lương Thanh B về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng; Căn cứ tính chất mức độ phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 50, Điều 65; điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại và người liên quan; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Cha ruột bị cáo ông Lương Văn H là người có công với cách mạng; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Lương Thanh B từ 02 năm đến 03 năm tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

- Về vật chứng:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã tạm giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Zace-GL, biển số 93A-094.10, số khung: KF36907266, số máy: 7K0654952 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, xác định xe ô tô biển số 93A-094.10 là tài sản hợp pháp của ông Phạm Cao Đ. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, ngày 08/01/2023, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý

đồ vật, tài liệu trả lại cho ông Đ là đúng quy định nên không đề nghị HĐXX xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 23/7/2022, Lương Thanh B ký hợp đồng thuê xe ô tô biển số 93A-094.10 trị giá 110.000.000 đồng do ông Phạm Cao Đ làm chủ sở hữu, thời hạn thuê 01 tháng để sử dụng. Đến ngày 14/9/2022, khi đã hết thời hạn thuê xe, B không trả xe ô tô biển số 93A-094.10 cho ông Đ mà cố ý chiếm đoạt rồi cầm cố cho chị H1 để vay số tiền 70.000.000 đồng, B sử dụng tiêu xài cá nhân hết số tiền trên, sau đó bỏ trốn.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4.1]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lương Thanh B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và người liên quan; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Cha ruột bị cáo ông Lương Văn H là người có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[4.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt có điều kiện cũng đủ để cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Phạm Cao Đ yêu cầu bị cáo Lương Thanh B bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tiền sửa chữa xe ô tô biển số 93A-094.10 bị hư hỏng do để lâu không sử dụng. Mẹ của bị cáo B là bà Nguyễn Thị K đã thay bị cáo B bồi thường cho bị hại Đ số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Ông Đ không yêu cầu bồi thường gì khác; Bà K không yêu cầu B trả lại số tiền trên nên trách nhiệm dân sự không đặt ra, HĐXX không xem xét.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 yêu cầu bị cáo B trả lại chị H1 số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) đã vay từ việc cầm cố xe ô tô biển số 93A-094.10. Vợ của bị cáo B là bà Nguyễn Thị T đã thay bị cáo B bồi thường cho chị H1 số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng). Chị H1 không yêu cầu gì khác; Bà T không yêu cầu bị cáo B trả lại số tiền trên nên trách nhiệm dân sự không đặt ra, HĐXX không xem xét.

[6] Đối với vật chứng của vụ án:

- 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Zace-GL, biển số 93A-094.10, số khung: KF36907266, số máy: 7K0654952 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định xe ô tô biển số 93A-094.10 là tài sản hợp pháp của ông Phạm Cao Đ. Xét thấy phương tiện không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả xe lại cho ông Đ nên HĐXX không xem xét.

[7] Kiểm sát viên đề nghị hình phạt cho bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp, đúng quy định; phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175, Điều 50, Điều 65, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
  2. Tuyên bố bị cáo Lương Thanh B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
  3. Xử phạt bị cáo Lương Thanh B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

  1. Án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước (1);
  • - VKSND tỉnh Bình Phước (1);
  • - PV 06 Công an tỉnh Bình Phước (1);
  • - CQĐT Công an tỉnh Bình Phước (1);
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Bình Phước (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước (1);
  • - VKSND thị xã Chơn Thành (1);
  • - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Đương sự (2);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2025/HSST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 82/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Thanh Bình - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger