|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 82/2025/HS-PT Ngày 24/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Thẩm phán: Ông Phạm Ngọc Thành, bà Nguyễn Thị Thuý Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Mạnh Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2025/TLPT-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Quang T, bị cáo Vũ Tiến Đ và bị cáo Vũ Gia B do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2025/QĐXXPT-HS ngày 14/5/2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 46/2025/QĐ-HSPT ngày 27/5/2025
- Bị cáo có kháng cáo:
+ Nguyễn Quang T, sinh năm 1998; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Đặng Thị M; Có vợ là Đỗ Thị Huyền M1 và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa)
+ Vũ Tiến Đ, sinh ngày 21/6/2007; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Quang Đ1 và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ,con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo Đ: Bà Phan Thị Minh H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T9 thuộc Sở tư pháp Thái Bình (có mặt)
+ Vũ Gia B, sinh ngày 20/3/2006; Nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T2 và bà Nguyễn Thị S; chưa có vợ,con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo B: Luật sư Chu Đình H1 - Công ty L. Địa chỉ: Số E, ngõ A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội ( có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Nguyễn Quang T làm công việc quản lý và cung cấp nhân viên nữ phục vụ tại các quán Karaoke trên địa bàn huyện K. Nhân viên nữ do Tuyến quản lý đến từ nhiều tỉnh, thành khác nhau, được T nuôi ăn uống, thuê nhà trọ của anh Nguyễn Văn T3, ở thôn N, xã H, huyện K để cư trú. Khi các quán Karaoke trên địa bàn huyện K có nhu cầu cần nhân viên nữ phục vụ khách hát thì chủ quán sẽ liên lạc với T để T phân công. Tuyến thuê Vũ Tiến Đ, Tô Văn H2 và Trần Đại V sinh ngày 23/12/2008, trú tại thôn T, xã V, huyện K chuyên chở nhân viên đi làm ở các quán Karaoke.
Ngày 11/8/2024, T phân công Đ chở chị Lù Thị D, sinh năm 2001, ở tỉnh Sơn La đến quán K1 địa chỉ thuộc thôn Đ, xã H, huyện K do chị Nguyễn Thị V1, sinh năm 1983 là chủ quán để phục vụ khách hát. Khi D đang phục vụ khách thì T gọi D về nhà trọ và nghỉ giữa chừng nên chị V1 không trả tiền công 02 giờ làm việc cho D, giữa chị V1 và T phát sinh mâu thuẫn.
Khoảng 04 giờ ngày 13/8/2024, tại nhà trợ của T, T bàn bạc với Vũ Tiến Đ và Tô Văn H2 giải quyết mâu thuẫn với chị V1 bằng cách gọi người trên thành phố T đến quán của chị V1 hát và sau đó tạo cớ gây sự, không thanh toán tiền hát cho chị V1 để chị V1 phải trả tiền công cho chị D. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T chở nhân viên của mình đến quán K2 ở thôn A, xã T, huyện K; T gọi điện thoại cho Vũ Văn T4, Vũ Tiến Đ; Trần Đại V; Phạm Ngọc Hải A, Vũ Lê Quang A1, Trần Hữu T5 và 01 nam thanh niên tên là K ở tỉnh Lào Cai (là bạn của T5 mới quen) đến khu vực quán K2 để nói cho những người này biết về việc mâu thuẫn giữa T và chị V1. T bảo T4, Đ, V, Hải A, Quang A1, T5 và K đến quán Karaoke của chị V1 thuê 01 phòng hát, 01 nhân viên nữ phục vụ hát và tạo lý do để gây mâu thuẫn, không thanh toán tiền hát; nếu có chuyện gì xảy ra thì gọi điện, nhắn tin để thông báo cho T biết, tất cả đều đồng ý theo kế hoạch của T. Sau khi bàn bạc phân công xong, V, Hải A, Quang A1, T5, K, T4 đi đến quán Karaoke của chị V1 để thuê phòng Vip 01. Trong quá trình hát, V gọi thêm Nguyễn Quang V2, Nguyễn Tiến S1 và Vũ Ngọc Gia B đến hát cùng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, Quang A1 có việc nên V2, S1, Vũ Ngọc Gia B điều khiển xe mô tô đi cùng Quang Al về thành phố T; những người còn lại vẫn tiếp tục hát. Đến khoảng 00 giờ ngày 14/8/2024, V, Hải A, T5, K, T4 ra quầy lấy hóa đơn thanh toán tiền hát là 4.660.000 đồng. Do không thanh toán tiền nên anh Phương Văn T6, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã H, huyện K là người quản lý quán Biên T5 đóng cửa quán lại, không cho ai đi về. Thấy vậy V nhắn tin thông báo cho T biết. T bảo Đ đi lấy hung khí ở nhà trọ của T gồm 04 đoạn tuýp sắt, 02 con dao quắm, 02 thanh kiếm cho vào cốp xe ô tô của T7; sau đó T nhắn tin cho V bảo V xin về trước để lấy tiền nên anh T6 mở cổng cho V, T5, Hải A về trước để lấy tiền trả. T5, Hải A đứng chờ ở cây xăng D2 còn V đi về đến nhà trợ của T gặp T và Đ đang chờ ở đây. Sau khi bàn bạc xong, V cầm theo bình xịt hơi cay giấu vào cạp quần rồi cùng với T, Đ đi đến cây xăng D2 ở xã H để tập hợp gọi thêm H2, V2, S1, Vũ Ngọc Gia B. Tuyến phân công H2, V2, Vũ Ngọc Gia B, V, T5, Hải A, S1, T5, Đ mang theo hung khí quay lại quán K1 để giải cứu K, T4 vẫn đang bị giữ lại trong quán đồng thời Tuyến hẹn mọi người khi nào xong việc thì tập trung tại cụm công nghiệp xã V, huyện K. S1, H2, V2, Vũ Ngọc Gia B, V, T5, Hải A, Đ sử dụng xe mô tô đi đến quán K1; V đi đến cổng gọi anh T6 ra mở cổng để trả tiền mục đích để những người còn ở trong quán chạy ra ngoài. Khi anh T6 mở cổng, T4 dùng chân đạp cổng và dùng tay giữ cổng, V sử dụng bình xịt hơi cay mang theo xịt vào mặt anh T6; H2 cầm 01 thanh kiếm giơ về hướng anh T6 để dọa; Đ cầm một 01 chiếc dao quắm; S1 cầm 01 thanh kiếm; V2 cầm một đoạn tup sắt chạy về hướng anh T6 để dọa anh T6. Chị V1 thấy vậy chạy ra thì bị V sử dụng bình xịt hơi cay xịt vào mặt. Sau đó, cả nhóm bỏ đi đến cụm công nghiệp xã V để tập hợp.
Khoảng 00 giờ 35 phút ngày 14/8/2024, T, S1, H2, V2, Vũ Ngọc Gia B, V, T5, Hải A, Đ, K, T4 tập trung tại khu công nghiệp xã V thì V nói với cả nhóm "Bây giờ quay lại lần nữa, tao cay thằng quản lý quá", cả nhóm đồng ý và điều khiển xe mô tô mang theo hung khí đi đến quán K1; còn T, K, Hải A ở lại. Khi cả nhóm điều khiển xe mô tô đi đến ngã ba T cách quán K1 khoảng 200m thì V, S1 cầm hung khí cà xuống đường để đánh lửa. Khi đến cổng quán K1 thì V, S1 xuống xe mô tô dùng hung khí đạp vào cổng sắt của quán; còn Đ, T4, H2, V2 đi qua cửa quán K1, chửi bới. Sau đó Đ, V2, T5 điều khiến xe mô tô chạy quanh khu vực cửa quán Biên T5 vê ga, nẹt pô xe mô tô. Khi thấy quán Biên T8 không mở cổng cả nhóm đi về tập hợp ở cụm công nghiệp xã V.
Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 14/8/2024, tại cụm C; có Tuyến, S1, H2, V2, Vũ Ngọc Gia B, V, T8, Hải A, Đ, K, T4 đang có mặt tại đây; V lại nói "Anh em quay lại lần nữa đi xem thế nào chứ tao vẫn còn cay"; những người có mặt đồng ý quay lại quán của chị V1 và mang theo hung khí; trừ T không đi và ngồi lại ở xe ô tô. Trên đường đi, S1, H2, V2, Vũ Ngọc Gia B, V, T8, Đ, K, T4, Hải A đi bằng xe mô tô, mang theo hung khí đến đoạn đường D thuộc khu vực cây xăng P ở xã Q, huyện K thì gặp Quang A1, Vũ Gia B và Phạm Ánh D1, sinh ngày 24/10/2009, trú tại tổ A, phường K, thành phố T (là bạn gái của Quang Al) nên ba người nhập nhóm đi cùng đến quán Biên T8. Khi đến ngã ba T thì V2, Vũ Ngọc Gia B dừng lại không đi đến quán; những người khác tiếp tục đi đến quán Biên T8. S1, H2, V2, V, T8, Đ, K, T4, Quang A1, Hải A, Vũ Gia B dừng xe mô tô ở khu vực đường trước cửa quán K1, còn Ánh D1 điều khiển xe mô tô đi về hướng xã Q, huyện K để chờ Quang Al (Á không có hành động gì). Tại khu vực đường trước của quán K1, S1, H2, V2, V, T8, Đ, K, T4, Quang A1, Hải A, Vũ Gia B có hành động bấm còi, nẹt pô, hò hét, chửi bới và dùng hung khí mang theo đập vào cánh cổng sắt của quán Biên T8. Những người trong nhóm thực hiện lập đi lập lại nhiều lần nhưng thấy quán Biên T8 không mở cống nên cả nhóm giải tán đi về.
Bản án sơ thẩm số 115/2024/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T, Vũ Tiến Đ, Vũ Gia B, Nguyễn Tiến S1, Vũ Lê Quang A1, Phạm Ngọc Hải A, Tô Văn H2, Trần Hữu T5, Vũ Văn T4, Nguyễn Quang V2, Vũ Gia B phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Về hình phạt:
- + Áp dụng: Điểm b, d khoản 2 Điều 318; điểm o Khoảng 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng từ, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- + Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 58; các Điều 90, 91, 98 và Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Vũ Tiến Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- + Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Vũ Gia B 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Tiến S1, Vũ Lê Quang A1, Phạm Ngọc Hải A, Tô Văn H2, Trần Hữu T5, Vũ Văn T4, Nguyễn Quang V2, Vũ Gia B; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 06/3/2025 bị cáo Vũ Gia B và bị cáo Nguyễn Quang T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Ngày 10/3/2025 bị cáo Vũ Tiến Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Quang T, bị cáo Vũ Tiến Đ và bị cáo Vũ Ngọc Gia B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên và tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Quang T, bị cáo Vũ Tiến Đ và bị cáo Vũ Ngọc Gia B.
Luật sư Chu Đình H1 trình bày: Không có tranh luận gì về tội danh. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo B chỉ tham gia vào vụ việc 1 lần vào giai đoạn cuối cùng do bạn bè rủ tham gia, bị cáo chỉ có hành vi hò hét, chửi, không chuẩn bị hung khí, bị cáo nhận thức còn hạn chế. Do đó, đề nghị cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h và điểm I khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và cho bị cáo được hưởng mức án thấp dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo Điều 54 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, tuổi đời còn trẻ nên đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
Trợ giúp viên pháp lý Phan Thị Minh H trình bày: Về tội danh không có tranh luận gì. Tại phiên toà bị cáo Đ khai báo thành khẩn, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Luật tư pháp người chưa thành niên để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không có bổ sung tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo để cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội tự cải tạo, lao động giúp đỡ gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của cáo phù hợp với lời khai của bị cáo và các bị cáo khác tại giai đoạn điều tra và các tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Do phát sinh mâu thuẫn giữa bị cáo Nguyễn Quang T với chị Nguyễn Thị V1 (chủ quán Karaoke Biên T8) trước đó, nên đêm ngày 13/8/2024 và rạng sáng ngày 14/8/2024, các bị cáo Nguyễn Quang T, Tô Văn H2, Trần Hữu T5, Nguyễn Quang V2, Vũ Tiến Đ, Vũ Ngọc Gia B, Vũ Gia B, Vũ Văn T4, Nguyễn Tiến S1, Phạm Ngọc Hải A, Vũ Lê Quang A1, Trần Đại V và 01 thanh niên tên K (không xác định được thông tin lý lịch, địa chỉ cụ thể), mang theo hung khí gồm tuýp sắt, dao quắm, kiếm đến quán B1 T5 và khu vực đường trước cửa quán K1 thuộc thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình có hành động hò hét, chửi bới, nẹt pô, phá phách gây rối trật tự cộng cộng, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T, bị cáo Vũ Tiến Đ và bị cáo Vũ Ngọc Gia B phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội với vai trò là người khởi sướng, chuẩn bị hung khí giữ vai trò chính của vụ án, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Vũ Tiến Đ và bị cáo Vũ Gia B không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Vũ Gia B là người đã trên 18 tuổi, bị cáo Vũ Tiến Đ khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội rất tích cực nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung như Toà án cấp sơ thẩm đã nhận định là có căn cứ và phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tại phiên tòa, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo.
[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Quang T, Vũ Tiến Đ, Vũ Gia B, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2025/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Cụ thể:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T, Vũ Tiến Đ, Vũ Gia B phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
- Về hình phạt:
- + Áp dụng: điểm b, d khoản 2 Điều 318; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng từ, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- + Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 58; các Điều 90, 91, 98 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Vũ Tiến Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- + Áp dụng : điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Vũ Gia B 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Quang T, Vũ Tiến Đ, Vũ Ngọc Gia B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 24/6/2025./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa. Vũ Duy Luân |
Bản án số 82/2025/HS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 82/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang T-B-Đ
