|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 82/2025/HS-ST Ngày 26 - 6 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Anh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An
Bà Đỗ Thị Kim Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Mỹ Linh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H, sinh năm 1959 tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư
trú: Tổ dân phố A, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị C; có chồng là Phùng Văn N và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hộ kinh doanh Nguyễn Thị H được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 19A8009258 do Phòng Tài chính - do Kế hoạch thành phố V cấp, đăng ký lần đầu ngày 06/7/2016, đăng ký thay đổi lần 1 ngày 04/10/2018. Người đại diện theo pháp luật của hộ kinh doanh là Nguyễn Thị H - SN 1959, trú tại tổ dân phố A, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc là Chủ hộ kinh doanh. Ngành nghề kinh doanh chính: Mua bán thực phẩm tươi sống, lương thực, thực phẩm, gia vị, đồ khô, bánh, kẹo, đường, sữa, hàng tạp hóa. Kê khai và nộp thuế tại Chi cục thuế thành phố V theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu.
Hộ kinh doanh Nguyễn Thị H chủ yếu cung cấp thực phẩm, gia vị, đồ khô cho các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố V. Tuy nhiên ngoài việc mua bán hàng hóa và xuất hóa đơn đúng quy định cho các đơn vị mua hàng, Nguyễn Thị H còn bán hóa đơn ghi khống hàng hóa cho Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc, cụ thể như sau:
Trong năm 2021 và năm 2022, Trần Quang D Giám đốc Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc giao cho Nguyễn Văn Đ là cán bộ Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc mua hóa đơn để hợp thức thanh toán cho số hàng hóa không có hóa đơn, đồng thời lập khống chứng từ để rút tiền ngân sách chi các khoản chi sai quy định. Do có quen biết với Nguyễn Thị H, nên Đ nhiều lần đặt vấn đề mua hóa đơn ghi khống nội dung để hợp thức cho số hàng hóa mà Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc mua của các cá nhân không có hóa đơn. Do nể nang Nguyễn Văn Đ thường xuyên mua hàng hóa của mình nên Nguyễn Thị H đã đồng ý bán hóa đơn cho Nguyễn Văn Đ và thống nhất giá bán hóa đơn từ 4,5% đến 5% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. Sau đó khi nào có nhu cầu mua hóa đơn thì Nguyễn Văn Đ cung cấp cho Nguyễn Thị H các thông tin về mặt hàng, tổng tiền hàng để Nguyễn Thị H làm căn cứ viết hóa đơn, có những hóa đơn H đưa cho Đ tự viết, có những hóa đơn H nhờ người khác (không nhớ là nhờ ai) viết hộ. Đến tháng 10/2022, H thuê Nguyễn Thị V, SN: 1989, trú tại thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc làm kế toán cho H với nhiệm vụ làm báo cáo thuế và xuất hóa đơn theo sự chỉ đạo của H cho các đơn vị và cá nhân mua hàng. Căn cứ vào số liệu Đ cung cấp, H sử dụng hóa đơn của H1 kinh doanh Nguyễn Thị H xuất bán khống cho Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc. Để hợp thức cho việc bán trái phép hóa đơn thì Đ và H đã làm các thủ tục ký kết hợp đồng mua bán, chứng từ thanh toán đầy đủ theo quy định. Sau khi hoàn thiện hồ sơ Đ làm thủ tục đề nghị thanh toán tiền ngân sách của UBND tỉnh V cấp cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc, qua Kho bạc nhà nước và chuyển tiền vào tài khoản số: 2810205040432, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh V của H1 kinh doanh Nguyễn Thị H để thể hiện việc mua bán hàng hóa nhưng thực chất là hợp thức cho việc mua hóa đơn. Sau khi nhận được tiền Nguyễn Thị H giữ lại số tiền tương ứng từ 4,5% cho đến 5% trên tổng tiền hàng ghi trên hóa đơn, số tiền còn lại Nguyễn Thị H sử dụng tài khoản ngân hàng trên chuyển trả lại cho Nguyễn Văn Đ vào tài khoản số: [...], Ngân hàng TMCP C1 và tài khoản số: 0989554669, Ngân hàng TMCP Q của Nguyễn Văn Đ. Quá trình trao đổi mua bán hóa đơn, Đ không bàn bạc, không nói cho H biết mục đích mua hóa đơn về để làm gì, H không biết các hóa đơn đã bán cho Nguyễn Văn Đ được sử dụng vào việc gì.
Trong năm 2021 và năm 2022, H đã xuất bán cho Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc tổng số 14 hóa đơn (5 hóa đơn viết tay và 9 hóa đơn điện tử) tương ứng số tiền bán hóa đơn cụ thể là:
- - Hóa đơn số 58806 ghi ngày 15/11/2021 với tổng tiền thanh toán là: 69.440.000 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 4,5% x 69.440.000 đồng = 3.124.800 đồng.
- - Hóa đơn số 58811 ghi ngày 15/12/2021 với tổng tiền thanh toán là: 62.890.000 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 4,5% x 62.890.000 đồng = 2.830.050 đồng.
- - Hóa đơn số 58818 ghi ngày 15/01/2022 với tổng tiền thanh toán là: 63.455.000 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 4,5% x 63.455.000 đồng = 2.855.475 đồng.
- - Hóa đơn số 58825 ghi ngày 04/02/2022 với tổng tiền thanh toán là: 56.640.000 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 4,5% x 56.640.000 đồng = 2.548.800 đồng.
- - Hóa đơn số 58826 ghi ngày 05/02/2022 với tổng tiền thanh toán là: 51.972.780 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 4,5% x 51.972.780 đồng = 2.338.775 đồng.
- - Hóa đơn số 09 ghi ngày 15/5/2022 với tổng tiền thanh toán là: 64.620.000 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 4,5% x 64.620.000 đồng = 2.907.900 đồng.
- - Hóa đơn số 21 ghi ngày 15/6/2022 với tổng tiền thanh toán là: 68.180.000 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 4,5% x 68.180.000 đồng = 3.068.100 đồng.
- - Hóa đơn số 27 ghi ngày 15/7/2022 với tổng tiền thanh toán là: 64.868.000 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 5% x 64.868.000 đồng =3.243.400 đồng.
- - Hóa đơn số 34 ghi ngày 15/8/2022 với tổng tiền thanh toán là: 68.130.000 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 5% x 68.130.000 đồng =3.406.500 đồng.
- - Hóa đơn số 41 ghi ngày 09/9/2022 với tổng tiền thanh toán là: 7.975.000 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 5% x 7.975.000 đồng = 398.750 đồng.
- - Hóa đơn số 42 ghi ngày 09/9/2022 với tổng tiền thanh toán là: 15.721.200 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 5% x 15.721.200 đồng = 786.060 đồng.
- - Hóa đơn số 44 ghi ngày 15/9/2022 với tổng tiền thanh toán là: 75.975.000 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 5% x 75.975.000 đồng =3.798.750 đồng.
- - Hóa đơn số 47 ghi ngày 30/9/2022 với tổng tiền thanh toán là: 6.956.400 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 5% x 6.956.400 đồng = 347.820 đồng.
- - Hóa đơn số 53 ghi ngày 15/10/2022 với tổng tiền thanh toán là: 78.250.000 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 5% x 78.250.000 đồng = 4.070.200 đồng.
Tổng số tiền thể hiện trên 14 hóa đơn là 755.073.380 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 35.725.380 đồng. Số tiền này Đ dùng tiền ngân sách của UBND tỉnh V cấp cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc trả cho Nguyễn Thị H. Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc sử dụng 14 hóa đơn nêu trên để hoạch toán cho một số khoản chi như mua thịt lợn, thịt gà, giò lụa, đậu phụ... mà người bán không có hóa đơn. Toàn bộ 14 hóa đơn nêu trên Hộ kinh doanh Nguyễn Thị H đã kê khai nộp thuế tại Chi cục thuế thành phố V.
Ngày 09/7/2024, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh V đã có Công văn số 2144/CSKT-Đ4 đề nghị Chi cục thuế thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc cung cấp thông tin về thuế suất áp dụng đối với các loại hàng hóa, dịch vụ ghi trên 14 hóa đơn Hộ kinh doanh Nguyễn Thị H bán cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 07/8/2024, Chi cục thuế thành phố V đã có Công văn số 719/CCTVYE-KKNVDT cung cấp thông tin tài liệu: Thuế suất áp dụng đối với các loại hàng hóa, dịch vụ trên 14 hóa đơn áp dụng mức thuế suất 1,5% trên doanh thu bán ra, trong đó tỷ lệ thuế GTGT: 1%, thuế TNCN: 0,5%. Các loại thuế phát sinh của 14 hóa đơn gồm: Thuế GTGT: 7.550.734 đồng; thuế TNCN: 3.775.367 đồng. Số tiền này H1 kinh doanh đã nộp đầy đủ vào ngân sách nhà nước. Như vậy, số tiền H thu lợi bất chính từ việc bán 14 hóa đơn cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc sau khi đã kê khai nộp thuế là: 24.399.279 đồng.
Kết quả điều tra xác định H1 kinh doanh Nguyễn Thị H sử dụng phần mềm hóa đơn điện tử từ tháng 4/2022; số lượng hóa đơn đăng ký là 600; mẫu số ký hiệu hóa đơn: 2C22TYY, 2C23TYY, 2C24TYY, 2C25TYY. Ngày 05/3/2025, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh V đã có Công văn số 1379/YC-CSKT đề nghị Chi cục thuế thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc cung cấp thông tin, tài liệu về tờ khai thuế, kết quả sử dụng hóa đơn của H1 kinh doanh Nguyễn Thị H từ năm 2021 đến nay.
Ngày 26/3/2025, Chi cục thuế thành phố V (nay là Đội thuế thành phố V) có Công văn số 30/ĐT-NVDTPC cung cấp thông tin: Hộ kinh doanh Nguyễn Thị H đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử ngày 05/4/2022. Đến ngày 07/6/2024, H1 kinh doanh Nguyễn Thị H đã ngừng hoạt động và hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Cơ quan thuế không kết xuất được dữ liệu hóa đơn điện tử trên hệ thống quản lý thuế, nên không có thông tin, tài liệu về kết quả sử dụng hóa đơn điện tử của H1 kinh doanh Nguyễn Thị H từ ngày 05/4/2022 đến ngày 07/6/2024 để cung cấp cho Cơ quan điều tra.
Quá trình điều tra xác định, H1 kinh doanh Nguyễn Thị H còn cung cấp thực phẩm thịt cá, gia vị, đồ khô, bánh kẹo cho các cơ quan, đơn vị khác thuộc Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh V gồm: Trung tâm Công tác xã hội tỉnh V; Trung tâm nuôi dưỡng và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc; Trung tâm điều dưỡng người có công T; Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh V. Quá trình điều tra và ghi lời khai những người liên quan xác định H1 kinh doanh Nguyễn Thị H bán hàng cho những đơn vị trên là bán hàng hóa có thật.
Đối với hành vi của Trần Quang D và Nguyễn Văn Đ: Mua hóa đơn để hợp thức thanh toán cho số hàng hóa không có hóa đơn, đồng thời lập khống chứng từ để rút tiền ngân sách chi các khoản chi sai quy định. Ngày 01/10/2024, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Quang D và Nguyễn Văn Đ về tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, xảy ra tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện tại, Cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục điều tra. Vì vậy, không đề cập xử lý trong vụ án này.
Đối với Nguyễn Thị V là người được Nguyễn Thị H thuê làm kế toán thuế cho H1 kinh doanh Nguyễn Thị H từ tháng 10/2022, nhiệm vụ là làm báo cáo thuế và xuất hóa đơn theo sự chỉ đạo của H. Bản thân V không tham gia và cũng không biết việc Nguyễn Thị H bán 14 hóa đơn cho Cơ sở cai nghiện ma túy nêu trên. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với Nguyễn Thị V là có căn cứ.
Đối với người viết hóa đơn hộ cho Nguyễn Thị H, quá trình điều tra đến nay không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại nên Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh V không có căn cứ để điều tra xác minh.
Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKS-P1 ngày 21 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Thị H về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo khoản 1 điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Nguyễn Thị H từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, đề nghị: Tịch thu sung công số tiền bị cáo nộp để khắc phục hậu quả.
Bị cáo nói lời sau cùng, do nhận thức pháp luật hạn chế nên đã vi phạm pháp luật, sau khi phạm tội rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết khách quan đã được cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy, Hội đồng xét xử một lần nữa có đủ cơ sở kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Trong năm 2021 và năm 2022, Nguyễn Thị H đã xuất bán khống (không có hàng hóa) cho Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc tổng số 14 hóa đơn với tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 755.073.380 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 35.725.380 đồng. Toàn bộ 14 hóa đơn nêu trên H đều kê khai, nộp thuế tại chi cục thuế thành phố V số tiền 1,5% giá trị số tiền ghi trên hóa đơn (Thuế GTGT là 1%, thuế thu nhập cá nhân là 0,5%) là 11.326.101 đồng. Số tiền H thu lợi bất chính là: 24.399.279 đồng.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội: “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại khoản 1 điều 203 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại khoản 1, Điều 203 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào...mua bán trái phép hóa đơn...đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số... thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 03 năm”
[4] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, cụ thể xâm phạm đến chế độ quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, gây ra thất thu ngân sách. Hành vi này không chỉ làm suy giảm tính minh bạch, công bằng trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn tiếp tay cho các hành vi trốn thuế. Do đó, cần xử lý nghiêm bị cáo để góp phần răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- - Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 24.400.000 đồng (là tiền thu lời) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo có mẹ đẻ được tặng thưởng Huân Chương kháng chiến Hạng nhất, bố bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng Ba; chồng bị cáo là quân nhân đã tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- - Về tình tiết tăng nặng: Không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Đối với đối tượng có liên quan trong vụ án:
- - Đối với hành vi của Trần Quang D và Nguyễn Văn Đ: mua hóa đơn để hợp thức thanh toán cho số hàng hóa không có hóa đơn, đồng thời lập khống chứng từ để rút tiền ngân sách chi các khoản chi sai quy định. Ngày 01/10/2024, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Quang D và Nguyễn Văn Đ về tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, xảy ra tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện tại, Cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục điều tra. Vì vậy, không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp.
- - Đối với Nguyễn Thị V là người được Nguyễn Thị H thuê làm kế toán thuế cho H1 kinh doanh Nguyễn Thị H từ tháng 10/2022, nhiệm vụ là làm báo cáo thuế và xuất hóa đơn theo sự chỉ đạo của H. Bản thân V không tham gia và cũng không biết việc Nguyễn Thị H bán 14 hóa đơn cho Cơ sở cai nghiện ma túy nêu trên. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với Nguyễn Thị V là có căn cứ.
- - Đối với người viết hóa đơn hộ cho Nguyễn Thị H, quá trình điều tra đến nay không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại nên Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh V không có căn cứ để điều tra xác minh.
[7] Về hình phạt:
- - Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền trốn thuế trong vụ án, vì vậy cần áp dụng hình phạt tiền như đề nghị của Viện kiểm sát. Tuy nhiên bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, tuổi cao, sức khỏe yếu nên chỉ phạt tiền bị cáo ở mức khởi điểm, vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật vừa thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án: Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 24.400.000 đồng để tự nguyện khắc phục hậu quả là số tiền trốn thuế, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị H là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Thị H phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt Nguyễn Thị H 50.000.000 đồng.
Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 24.400.000 đồng bị cáo tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả (Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/6/2025 giữa Công an tỉnh V và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn An Đỗ Thị Kim Thúy |
Đỗ Anh Cường |
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Anh Cường |
9
Bản án số 82/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về mua bán trái phép hóa đơn
- Số bản án: 82/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H bán hóa đơn cho Trung tâm cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc
