|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2025/HS-ST
Ngày: 25/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Dũng
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Văn Vô
Ông Đoàn Hồng Hải
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Đ: Phòng xét xử trực tuyến - Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: F N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và Đ cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến-Trại giam C (phân trại khu vực Quận E), địa chỉ: E D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2025/HSST ngày 06/6/2025, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Phạm Thanh S, sinh ngày 09 tháng 4 năm 1983 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Thường trú: C L, Khu Phố A, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: (Không rõ họ tên cha) và bà: Trần Thị Kim L; Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 15/9/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2017. Bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đ và nộp một phần số tiền xung ngân sách Nhà nước. Hiện bị cáo còn phải nộp tiền xung ngân sách Nhà nước số tiền 9.400.000đ; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 24/8/2001, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2002, đã thực hiện việc đóng án phí theo biên lai thu số 0840 ngày 15/7/2009; Ngày 08/7/2003, bị Ủy ban nhân dân Thành phố H ra Quyết định số 7660/QĐ-UB về việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh, ngày 31/12/2007 chấp hành xong; Ngày 28/5/2009, bị Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 24/7/2009, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự, Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, Quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam số 122/KSĐT, do chuyển biến tình hình, hành vi của bị cáo S không còn nguy hiểm cho xã hội.
+ Ngày 28/7/2010, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/12/2013, đã thực hiện việc đóng án phí theo biên lai thu số 43111 ngày 25/10/2010;
+ Ngày 30/01/2018, bị Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2018, đã thực hiện đóng án phí theo biên lai thu số 2534 ngày 25/3/2019.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2025 (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trần Nguyễn Quỳnh N, sinh năm 1990 (vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: C L, Khu Phố A, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 20/01/2025, Tổ tuần tra 363 - Công an Q1 tuần tra đến trước nhà số C L, Phường D, Quận E phát hiện Trần Phạm Thanh S có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ bên trong túi quần phía trước bên trái có 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng, S khai là ma túy để sử dụng nên Tổ tuần tra 363 đưa S cùng vật chứng về Công an P1, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Phạm Thanh S khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy nên ngày 20/01/2025, S mượn xe đạp điện của Trần Nguyễn Quỳnh N di chuyển đến khu vực Cầu S, Quận H để tìm người mua ma túy, S mua được 02 gói nylon ma túy của một người thanh niên (chưa rõ lai lịch) với giá 400.000 đồng. Sau đó, S cất giấu số ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên trái và di chuyển về nhà, khi đến trước địa chỉ số C L, Phường D, Quận E thì bị Tổ tuần tra 363 - Công an Q1 kiểm tra hành chính đối với S phát hiện và bắt giữ như nêu trên. S khai số ma túy trên mua với mục đích để sử dụng, không có mục đích khác.
Vật chứng: 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động Itel, số IME1: 357887101579109; 01 xe đạp điện.
Tại bản Kết luận giám định số 2143/KL-KTHS ngày 28/01/2025 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
Bột trong 02 gói nylon trong một gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Huy Đ1 và hình dấu Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 1,2926g (một phẩy hai chín hai sáu gam) loại Heroine (H)
Bản cáo trạng số: 90/CT-VKS-Q5 ngày 04/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Phạm Thanh S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trần Phạm Thanh S đã có hành vi cất giữ trái phép 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng, có khối lượng 1,2926 gam, là ma túy thể rắn, loại Heroine với mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Phạm Thanh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Phạm Thanh S với mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù; Về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Phạm Thanh S không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Trần Phạm Thanh S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Trần Phạm Thanh S đã có hành vi cất giữ trái phép 1,2926 gam, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại, gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 1,2926 gam heroin, thuộc khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đây là hành vi nguy hiểm, vi phạm nghiêm trọng chính sách quản lý ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội và sức khỏe cộng đồng.
Mặc dù khối lượng ma túy không lớn, nhưng bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử, đã được xóa án tích nhưng vẫn tái phạm, cho thấy ý thức coi thường pháp luật, khó cải tạo trong cộng đồng. Hành vi diễn ra trong bối cảnh tội phạm ma túy đang phức tạp, gây bức xúc dư luận tại địa phương.
Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Do đó, cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cải tạo và phòng ngừa tội phạm ma túy.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” không hưởng lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Đối với thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa rõ lai lịch, khi nào bắt được xử lý sau.
[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Phạm Thanh S là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị vẫn còn ở mức nhẹ so với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định được gói trong 01 gói niêm phong số 1020/25-Q5 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ điều tra Đặng Thế P. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động Itel, số IME1: 357887101579109, là tài sản cá nhân của bị cáo S, không liên quan đến việc mua, bán trái phép chất ma túy nên cần trả lại cho bị cáo.
01 xe đạp điện màu trắng, bên ngoài ghi chữ CHRISTIAN DIOR. Qua xác minh, lấy lời khai thì ông Hoàng Văn T xác định là đã bán chiếc xe trên cho chị Trần Nguyễn Quỳnh N nhưng không có giấy tờ mua bán. Ngày 20/01/2025, Như cho Trần Phạm Thanh S mượn xe nhưng không biết S sử dụng xe để đi mua ma túy, chị N yêu cầu được nhận lại 01 xe đạp điện nêu trên. Xét chiếc xe trên chỉ là xe đạp điện, không đăng ký giấy tờ và việc mua bán giữa ông Hoàng Văn T và chị Trần Nguyễn Quỳnh N không có hợp đồng mua bán nên hiện chưa xác định được chủ sở hữu. Do đó, cần giao Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu trong thời hạn 03 (ba) tháng. Nếu hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho bà Trần Nguyễn Quỳnh N.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trần Phạm Thanh S 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2025.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số 1020/25-Q5 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ điều tra Đặng Thế P. (Đây là số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Phạm Thanh S còn lại sau giám định).
Trả lại cho bị cáo Trần Phạm Thanh S 01 điện thoại di động Itel, số IME1: 357887101579109.
Giao cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu trong thời hạn 03 tháng 01 xe đạp điện màu trắng, bên ngoài ghi chữ CHRISTIAN DIOR. Nếu hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho bà Trần Nguyễn Quỳnh N.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quang Dũng |
Bản án số 82/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 82/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Phạm Thanh Sơn - Tàng trữ trái phép chất ma túy
