Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 82/2025/HS-ST

Ngày: 17-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Quế; ông Hoàng Xuân Tỵ.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc (TP. Bảo Lộc), tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2025/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Bảo Phi T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1989; tại: Ninh Thuận; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Thợ điện; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông: Nguyễn Phi H và bà: Nguyễn Thị Thanh M; vợ: Đinh Mỹ N, sinh năm 1995 và có 01 con, sinh năm 2017, hiện đang ở với mẹ; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 12/04/2016 bị Công an phường A1, thành phố B, Lâm Đồng xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi đánh nhau. (Đã nộp phạt năm 2016). Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L từ ngày 08/01/2025 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Văn H1, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn H, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 16/10/2024 Nguyễn Bảo Phi T ngồi ăn cơm và uống rượu cùng với Trần Văn H1, Lê Thăng L, Nguyễn Quang Thế A, Đào Xuân H2 và Phạm Thái S đều là nhân viên Công ty V tại khu vực nhà sinh hoạt tập thể của công ty ở địa chỉ 8 đường Đ, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, sau đó có thêm Trần Văn Đ và Đặng Vũ P đến chơi. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, mọi người nghỉ còn Nguyễn Bảo Phi T, Trần Văn H1, Trần Văn Đ, Đặng Vũ P và Phạm Thái S tiếp tục ra quán của bà Tưởng Thị N1, ngay trước cửa công ty để uống bia tiếp. Trong lúc uống bia thì giữa Nguyễn Bảo Phi T và Đặng Vũ P xảy ra mâu thuẫn cãi vã, lúc này Trần Văn H1 đứng lên bênh vực P nên giữa T và H1 xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nên T có dùng tay kẹp cổ, vật H1 té ngã xuống đất ngay trước quán bà N1. Lúc này, do bực tức nên Trần Văn H1 đứng dậy chạy vào khu vực nhà kho nơi để dụng cụ lao động của công ty V cách đó khoảng 50m lấy ra 01 thanh sắt dài 31cm, 01 đầu hình trụ tròn, 01 đầu nhọn (còn gọi là cây lắc) rồi quay lại chỗ quán bà N1 với mục đích để đánh T, khi anh H1 chạy đi thì T cũng vào quán bà N1 cầm lấy 01 cái kéo lưỡi bằng sắt mũi nhọn, dài 19cm cán màu đỏ để trên bàn trong nhà bà N1 và cầm ra khu vực trước cổng công ty trong lúc đó anh Đ, P và S cũng đứng lên đi theo T với mục đích để can nếu có chuyện. Một lúc sau H1 cầm thanh sắt chạy bộ từ trong nhà kho công ty ra đến chỗ T và những người khác đang đứng, H1 giơ thanh sắt lên đánh một cái về phía T nhưng không trúng nên H1 mất đà và té xuống đường. Thấy vậy T cầm kéo xông đến dọa đâm nhưng không đâm H1. Sau khi bị té H1 đứng dậy, giữa hai bên tiếp tục chửi nhau và dùng hung khí nhứ dọa qua lại nhưng không đánh trúng nhau. Sau đó H1 cầm thanh sắt chạy vào phía khu sinh hoạt của công ty V, T cũng cầm kéo đuổi theo, S đi theo sau hai người còn Đ chở P về nhà. Khi T và H1 đuổi nhau vào khu sinh hoạt chung của công ty V, lúc này ngoài anh Phạm Thái S còn có anh Đào Xuân H2 và anh Lê Thăng L là những người cùng uống rượu lúc trước đó ra xem và can ngăn, H1 cầm thanh sắt đứng ở khu vực gần hàng rào phía trong còn T cầm kéo đứng cách H1 2,1m, cả hai tiếp tục chửi nhau. Sau đó T bỏ cây kéo lên bàn gỗ gần đó rồi thách thức H1 ra ngoài đánh nhau bằng tay không, lúc này H1 tiếp tục cầm thanh sắt định lao vào đâm T. T thấy vậy cũng cầm cái kéo, khi H1 lao vào đâm nhưng không trúng và chúi người về phía trước thì T cầm cái kéo bằng tay phải đâm 02 nhát theo hướng từ trên xuống trúng và phần vai phía sau bên trái và vùng sau gáy trái của H1 làm H1 ngã úp mặt xuống nền nhà. Sau đó H1 xoay người ngửa lên cầm cây lắc đâm về phía T nhưng không trúng. T dùng chân đạp H1 té ngửa rồi chồm người đến cầm kéo đâm 01 nhát trúng bả vai trái H1. Sau đó, T tiếp tục đâm 01 nhát theo hướng từ phải qua trái trúng vào bờ sau nách trái và 01 nhát vào ngực phải H1. Sau khi thấy H1 chảy nhiều máu các anh H2, S, L chạy vào can ra và đưa H1 đi cấp cứu. Hậu quả: Trần Văn H1 bị 05 vết thương lúc vào viện cấp cứu gồm: 01 vết thương ngực phải kích thước 1 cm x 0,5cm; 01 vết thương gáy trái kích thước 2cm x 1cm; 01 vết thương vai trái kích thước 1,5cm x 1cm; 01 vết thương lưng trái kích thước 1cm x 1 cm; 01 vết thương bờ sau nách trái kích thước 1,5 x 1cm.

Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 19/11/2024 của Bệnh viện I chẩn đoán thương tích của Trần Văn H1: Vết thương thấu ngực trái – thủng cơ hoành trái, thủng dạ dày, thủng gan trái, thủng lách/tràn khí màng phổi trái – tràn khí dưới da ngực và hông trái/đa vết thương ngực/ bị đâm.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 729 ngày 03/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: thương tích của Trần Văn H1 là 71%, tổn thương do vật sắc nhọn gây nên.

Tại công văn trả lời số 58 ngày 05/05/2025 về việc tách tỷ lệ từng % thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: Tổng tỷ lệ thương tích của Trần Văn H1 là 71%, các tổn thương trên do vật sắc nhọn gây nên trừ sẹo mổ và 02 sẹo dẫn lưu là do mổ cấp cứu nạn nhân.

Về vật chứng: Quá trình điều tra tạm giữ 01 chiếc kéo đã qua sử dụng, dài 19cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, lưỡi được mài sắc một mặt, cán nhựa màu trắng đỏ, cán nhựa bên phải bị gãy mất nhựa lộ một phần thân kéo; 01 thanh sắt đã qua sử dụng, mất màu sơn, màu đen dài 31cm, một đầu gắn thanh sắt dài 05cm hình trụ tròn, đường kính 2,5cm bên trong thanh sắt rỗng; một đầu nhọn, chỗ rộng nhất 2,5cm, chỗ rộng nhỏ nhất 0,2cm; thanh sắt đặc.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn H1 yêu cầu Nguyễn Bảo Phi T bồi thường chi phí điều trị thương tích, tổn thương sức khỏe là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Tại phiên tòa bị hại rút một phần yêu cầu, chỉ yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 98.000.000 đồng (Chín mươi tám triệu đồng).

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã nêu, không thắc mắc khiếu nại gì đối với nội dung bản cáo trạng thấy đúng với hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bản Cáo trạng số 80/CT-VKSBL ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Bảo Phi T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo T từ 08 đến 09 năm tù và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo T có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại là số tiền 98.000.000 đồng (Chín mươi tám triệu đồng); về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kéo (đã qua sử dụng) dài 19cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng mũi nhọn, lưỡi được mài sắc một mặt, cán nhựa màu trắng đỏ, cán nhựa bên phải bị gãy mất nhựa lộ một phần thân kéo; 01 thanh sắt (đã qua sử dụng, mất màu sơn) màu đen dài 31 cm, một đầu gắn thanh sắt dài 05 cm hình trụ tròn đường kính 2,5 cm bên trong thanh sắt rỗng; một đầu nhọn, chỗ rộng nhất 2,5 cm; chỗ rộng nhỏ nhất 0,2 cm; thanh sắt đặc; Buộc bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an T4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ xác định tội: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/10/2024 tại khu vực nhà sinh hoạt tập thể của Công ty V, địa chỉ số H đường Đ, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi uống rượu bia, giữa Nguyễn Bảo Phi T và Trần Văn H1 đã xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xát đánh nhau. Nguyễn Bảo Phi T đã thực hiện hành vi dùng 01 chiếc kéo (hung khí nguy hiểm) đâm nhiều nhát vào người của Trần Văn H1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 71% (bảy mươi mốt phần trăm). Đối chiếu lời khai của bị cáo, bị hại có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Về tính chất mức độ, hậu quả hành của vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác thể hiện thái độ coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị hại có lỗi một phần; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo T một phần hình phạt. Xét cần thiết cách ly bị cáo T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tính răn đe, giáo dục.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại rút một phần yêu cầu, chỉ yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 100.000.000 đồng, được trừ vào số tiền đã bồi thường trước là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), số tiền còn phải bồi thường tiếp là 98.000.000 đồng(Chín mươi tám triệu đồng); bị cáo T đồng ý bồi thường, do vậy cần ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, buộc bị cáo T tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 98.000.000 đồng(Chín mươi tám triệu đồng).

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc kéo (đã qua sử dụng) dài 19cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng mũi nhọn, lưỡi được mài sắc một mặt, cán nhựa màu trắng đỏ, cán nhựa bên phải bị gãy mất nhựa lộ một phần thân kéo; 01 thanh sắt (đã qua sử dụng, mất màu sơn) màu đen dài 31 cm, một đầu gắn thanh sắt dài 05 cm hình trụ tròn đường kính 2,5 cm bên trong thanh sắt rỗng; một đầu nhọn, chỗ rộng nhất 2,5 cm; chỗ rộng nhỏ nhất 0,2 cm; thanh sắt đặc xét không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo Phi T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Phi T 08 (T1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2025.

2/ Phần dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự buộc bị cáo T có nghĩa vụ bồi thường cho ông Trần Văn H1 số tiền 98.000.000 đồng (Chín mươi tám triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3/Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo (đã qua sử dụng) dài 19cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng mũi nhọn, lưỡi được mài sắc một mặt, cán nhựa màu trắng đỏ, cán nhựa bên phải bị gãy mất nhựa lộ một phần thân kéo; 01 thanh sắt (đã qua sử dụng, mất màu sơn) màu đen dài 31 cm, một đầu gắn thanh sắt dài 05 cm hình trụ tròn đường kính 2,5 cm bên trong thanh sắt rỗng; một đầu nhọn, chỗ rộng nhất 2,5 cm; chỗ rộng nhỏ nhất 0,2 cm; thanh sắt đặc.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/5/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).

4/ Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.900.000 đồng (Bốn triệu chín trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND TP. Bảo Lộc;
  • - Công an tỉnh L;
  • - Trại tạm giam;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A dân sự T;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Đình T2

Vào hồi giờ phút ngày 17 tháng 6 năm 2025

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG sơ thẩm gồm có:

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình T2

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Q; ông Hoàng Xuân T3;

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 đối với: Bị cáo Nguyễn Bảo Phi T, sinh năm 1989, tại: Ninh Thuận;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN,

BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1/ Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo Phi T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Phi T 08 (T1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2025. Biểu quyết: 3/3.

2/ Phần dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự buộc bị cáo T có nghĩa vụ bồi thường cho ông Trần Văn H1 số tiền 98.000.000 đồng (Chín mươi tám triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Biểu quyết: 3/3.

3/Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo (đã qua sử dụng) dài 19cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng mũi nhọn, lưỡi được mài sắc một mặt, cán nhựa màu trắng đỏ, cán nhựa bên phải bị gãy mất nhựa lộ một phần thân kéo; 01 thanh sắt (đã qua sử dụng, mất màu sơn) màu đen dài 31 cm, một đầu gắn thanh sắt dài 05 cm hình trụ tròn đường kính 2,5 cm bên trong thanh sắt rỗng; một đầu nhọn, chỗ rộng nhất 2,5 cm; chỗ rộng nhỏ nhất 0,2 cm; thanh sắt đặc.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/5/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc). Biểu quyết: 3/3.

4/ Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.900.000 đồng (Bốn triệu chín trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Biểu quyết: 3/3.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo. Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút ngày 16 tháng 6 năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Đình T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 82/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: XX
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger