Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 82/2025/HS-ST

Ngày: 16/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Em và bà Đào Thị Mộng Trinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đình Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lương Tiểu Hậu – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXXST-HS ngày 09/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/HSST-QĐ ngày 22/5/2025 đối với các bị cáo:

1/ LÊ VĂN T (Tên gọi khác: Ba R) - Sinh năm 1998.

Nơi sinh: tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Giới tính: nam.

Trình độ học vấn: 6/12.

Nghề nghiệp: không ổn định.

Cha: Lê Văn M (chết). Mẹ: Trần Thị B.

Tiền án:

- Ngày 06/8/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 57/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/12/2021, chưa được xóa án tích.

- Ngày 15/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 21/2023/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/5/2024, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 09/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 73/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/12/2015 (không tính án tích do lúc phạm tội dưới 18 tuổi và phạm tội ít nghiêm trọng).

- Ngày 26/3/2025, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 46/2025/HS-ST, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án (Bản án đã có hiệu lực pháp luật).

Bị cáo bị bắt ngày 26/10/2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực H.

Bị cáo có mặt.

2/ NGÔ XUÂN MINH (Tên gọi khác: N) - Sinh năm 1992.

Nơi sinh: tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Giới tính: nam.

Trình độ học vấn: 6/12.

Nghề nghiệp: không ổn định.

Cha: Ngô Văn Đ. Mẹ: Nguyễn Thị Thu V.

Vợ: Nguyễn Thị B1.

Bị cáo có hai người con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2024.

Tiền án:

Ngày 25/6/2020, bị Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 46/2020/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2024, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: không.

Nhân thân:

Ngày 11/3/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 17/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2015, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt ngày 26/10/2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực H.

Bị cáo có mặt.

- Bị hại:

1/ Bà Đỗ Thị Thùy L – Sinh năm 1995. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

2/ Ông Nguyễn Minh H – Sinh năm 2004. (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

3/ Ông Nguyễn Ngọc D – Sinh năm 1996. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

4/ Ông Nguyễn Điễn H1 – Sinh năm 1976. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

5/ Bà Nguyễn Thị C – Sinh năm 1963. (có mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Ung Ngọc Á – Sinh năm 1992. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn U, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

2/ Ông Đỗ Đ1 – Sinh năm 1997. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

3/ Bà Nguyễn Thị Gái H2 – Sinh năm 1980. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

4/ Ông Nguyễn Minh T1 – Sinh năm 1996. (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng:

1/ Ông Nguyễn Văn S – Sinh năm 1996. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

2/ Bà Nguyễn Thị B1 – Sinh năm 1992. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn T (B), sinh năm 1998, ở thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận là đối tượng có 02 tiền án:

Ngày 06/8/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 57/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/12/2021.

Ngày 15/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 21/2023/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/5/2024 (Bản án này đã xét xử T với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”).

Ngô Xuân M1 (N), sinh năm 1992, ở thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận là đối tượng có 01 tiền án:

Ngày 25/6/2020, bị Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 46/2020/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2024.

Sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, T và M1 không có nghề nghiệp, trong khoảng thời gian từ ngày 06/10/2024 đến ngày 20/10/2024, T và M1 đã nhiều lần lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác và lấy đó làm nguồn sống chính, cụ thể như sau:

+ Lần thứ nhất: khoảng 10 giờ ngày 06/10/2024, T được Nguyễn Văn S (Véo), sinh năm 1996, ở thôn A, xã H nhờ chở đến thị trấn M để lấy tiền của người khác, T đồng ý, mượn xe mô tô (không rõ biển số) của một người tên M2 ở thành phố P (không rõ nhân thân) chở S đi. Sau khi đến thị trấn M, S không lấy được tiền nên S điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở T về theo đường X, xã H. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đi ngang qua nhà chị Đỗ Thị Thùy L, sinh năm 1995, ở thôn K, xã H, T nhìn thấy xe mô tô biển số 86B3-610.34, hiệu Honda, loại Airblade, màu xám-đen của chị L dựng ở trước nhà, không có người trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp. T nói dối Sao đứng đợi để T vào nhà mượn xe mô tô của anh T, S đồng ý. T lén lút đi bộ vào nhà chị L, dắt xe mô tô biển số 86B3-610.34 ra khỏi nhà. Do xe không có chìa khóa nên T ngồi lên xe mô tô, T nói với S đẩy xe mô tô đi giúp, Sao nghĩ xe hết xăng nên đồng ý, điều khiển xe mô tô rồi dùng chân đẩy xe mô tô biển số 86B3-610.34 giúp T đến một cây xăng ở xã H rồi Sao chạy xe mô tô về nhà T trước (Sao không biết việc T trộm cắp xe mô tô biển số 86B3-610.34). Sau đó, T dắt xe mô tô 86B3-610.34 đi đến gặp anh Ung Ngọc Á (T2), sinh năm 1992, ở thôn U, xã H nói dối với anh Á là xe mô tô của T, đang cần tiền nên muốn cầm cố xe cho anh Á với giá 4.500.000 đồng, anh Á tin tưởng, đồng ý nhận cầm cố, do T còn nợ anh Á số tiền 2.000.000 đồng nên anh Á đưa T số tiền 2.500.000 đồng. Số tiền cầm cố xe có được, T sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Chị L sau khi phát hiện bị mất xe nên đã đến Công an xã H trình báo. Công an xã H tiếp nhận tin báo, tiến hành xác minh, mời T làm việc, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Anh Á sau khi biết xe mô tô biển số 86B3-610.34 do T phạm tội mà có đã tự nguyện giao nộp xe cho Công an xã H.

+ Lần thứ hai: tối ngày 15/10/2024, T và Minh nhậu ở nhà bạn tại xã H cùng với một người tên P (không rõ nhân thân) ở thành phố P. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 16/10/2024, T và M1 nảy sinh ý định đi trộm xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài. M1 nói với P là mượn xe mô tô, nhãn hiệu Dream (không rõ biển số) của P đi mua đồ ăn, P đồng ý cho M1 mượn xe (P không biết M1 và T mượn xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản). Sau đó, T điều khiển xe mô tô của P chở M1 chạy từ xã H đến thị trấn P tìm xe mô tô để trộm cắp. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, T và M1 đi ngang qua nhà ông Nguyễn Viết Đ2, sinh năm 1982, ở khu phố P, thị trấn P thì nhìn thấy xe mô tô biển số 86C1-420.95, hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh-đen của anh Nguyễn Minh H, sinh năm 2004 (xe này anh H mượn của anh trai là Nguyễn Minh T1, sinh năm 1996, cùng ở khu phố B, phường P, thành phố P) đang dựng trong sân nhà, không có người trông coi, chìa khoá cắm sẵn trên xe. T dừng xe, đứng cảnh giới; M1 đi đến, lén lút dắt xe mô tô biển số 86C1-420.95 ra khỏi sân nhà, điều khiển chạy đi; T điều khiển xe mô tô Dream chạy theo sau. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, M1 điều khiển xe mô tô Dream chạy về nhà trả cho P. Khoảng 08 giờ cùng ngày, T và M1 điều khiển xe mô tô biển số 86C1-420.95 đến cây xăng V1, xã H gặp anh Đỗ Đ1, sinh năm 1997, ở thôn T, xã H. T và M1 nói dối với anh Đ1 là xe mô tô biển số 86C1-420.95 của M1, đang cần tiền nên muốn bán với giá 3.000.000 đồng, anh Đ1 tin tưởng, không biết xe mô tô trên do T và M1 trộm cắp mà có nên đồng ý mua. Số tiền bán xe mô tô có được, T và M1 chia nhau mỗi người 1.500.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Anh H sau khi phát hiện bị mất xe đã đến Công an thị trấn P trình báo. Công an thị trấn P tiếp nhận tin báo, tiến hành xác minh, mời T và M1 làm việc, cả hai đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Anh Đ1 sau khi biết xe mô tô biển số 86C1-420.95 do T và M1 phạm tội mà có đã tự nguyện giao nộp xe cho Công an thị trấn P.

+ Lần thứ ba: khoảng 03 giờ 20 phút ngày 17/10/2024, T và M1 đi bộ trên các tuyến đường thuộc xã H để trộm cắp xe mô tô. Khi đi, M1 cầm theo 01 cây kìm bằng kim loại, màu đỏ-đen, dài khoảng 30cm để làm công cụ. Khoảng 03 giờ 44 phút cùng ngày, T và M1 đi ngang qua nhà anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1996, ở thôn T, xã H thì thấy trong sân nhà có để xe mô tô biển số 86C1-313.65, hiệu Suzuki, màu xanh-trắng của anh D. M1 nói với T đứng ở ngoài cảnh giới để M1 vào lấy trộm xe. Do xung quanh nhà có hàng rào lưới B40 nên M1 dùng kìm cắt lưới B40, kéo lưới ra tạo thành 01 khoảng trống rộng khoảng 02m, cao khoảng 1,5m. M1 đi vào sân nhà, đến nơi dựng xe mô tô biển số 86C1-313.65, thấy chìa khóa cắm sẵn trên xe, M1 lén lút dắt xe ra khỏi sân nhà rồi đi đến chỗ T đang đứng. M1 điều khiển xe mô tô chở T về nhà M1, M1 mở cốp xe mô tô biển số 86C1-313.65 ra kiểm tra thì thấy bên trong có số tiền 260.000 đồng, 01 giấy đăng ký xe mô tô của xe mô tô biển số 86C1-313.65 số 036786 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 05/11/2013 cho ông Nguyễn Viết T3, sinh năm 1986, ở thôn T, xã T, thành phố P và 01 giấy phép lái xe hạng A1 của anh D. M1 và T lấy số tiền 260.000 đồng chia nhau tiêu xài cá nhân hết, giấy phép lái xe hạng A1 của anh D thì M1 đem vứt bỏ (không rõ nơi vứt). Đến khoảng 10 giờ ngày 18/10/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 86B2-315.89, hiệu Honda, loại Winner, màu bạc đen-đỏ (xe do Minh mượn của một người tên B2, không rõ nhân thân ở huyện B); M1 điều khiển xe mô tô biển số 86C1-313.65 đến tiệm cầm đồ H2, ở thôn C, xã H gặp chủ tiệm là bà Nguyễn Thị Gái H2, sinh năm 1980. M1 nói với bà H2 muốn cầm cố xe mô tô biển số 86C1-313.65 và đưa giấy đăng ký xe cho bà H2 xem. Bà H2 thấy xe không chính chủ nên không đồng ý nhận cầm cố. M1 năn nỉ, nói dối với bà H2 là M1 mua lại xe mô tô biển số 86C1-313.65 của ông T3 nhưng chưa kịp sang tên, nhờ bà H2 cầm cố giúp, vài ngày sau sẽ chuộc lại. Bà H2 tin tưởng, đồng ý cầm cố xe với số tiền 4.000.000 đồng. M1 đưa xe mô tô biển số 86C1-313.65, giấy chứng nhận đăng ký xe và căn cước công dân của M1 cho bà H2 rồi nhận tiền. Số tiền cầm cố xe có được, M1 và T chia nhau mỗi người 2.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Anh Duy sau khi phát hiện bị mất xe đã đến Công an xã H trình báo. Công an xã H tiếp nhận tin báo, tiến hành xác minh, mời T và M1 làm việc, cả hai đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bà H2 sau khi biết xe mô tô biển số 86C1-313.65 do T và M1 phạm tội mà có đã tự nguyện giao nộp xe, giấy chứng nhận đăng ký xe và căn cước công dân của M1 cho Công an xã H.

+ Lần thứ tư: khoảng 11 giờ ngày 18/10/2024, T và M1 rủ nhau đi trộm cắp xe mô tô, T điều khiển xe mô tô biển số 86B2-315.89 chở M1 chạy theo các tuyến đường thuộc xã H để tìm xe mô tô trộm cắp. Khi đi, M1 mang theo 01 bộ phá khóa xe tự chế, gồm: 01 thanh kim loại đường kính khoảng 0,8cm, dài khoảng 10cm, một đầu dẹt, một đầu hình lục giác; 01 khoá 08 ly và 01 cờ lê bằng kim loại dài 13,5cm, loại 10 ly để mở biển số xe. Khi đến thôn G, xã H, M1 nhìn thấy xe mô tô biển số 86B3-640.51, nhãn hiệu Honda, loại Winner, màu đen của ông Nguyễn Điễn H1, sinh năm 1976, ở thôn G, xã H đang dựng ở bên phải đường theo hướng đi, không có người trông coi. M1 nói với T: “quay xe lại lấy trộm chiếc xe kia”, T đồng ý. T điều khiển xe mô tô biển số 86B2-315.89 chở M1 quay lại đến gần xe mô tô biển số 86B3-640.51, T đứng cảnh giới. M1 lén lút đi đến, dùng đoản phá khoá xe rồi điều khiển xe mô tô biển số 86B3-640.51 chạy đi, T điều khiển xe mô tô biển số 86B2-315.89 chạy theo. Trên đường đi, M1 làm rơi bộ phá khóa xe tự chế. Khi đi đến khu vực hồ nước ở thôn B, xã H, M1 dừng xe lại, T dùng cờ lê mở ốc, tháo biển số 86B3-640.51 vứt bỏ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 86B2-315.89, M1 điều khiển xe mô tô biển số 86B3-640.51 (không gắn biển số) đến nhà Trương Văn D1, sinh năm 1992, ở thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Tại đây, M1 nói với D1 xe vừa trộm được ở xã H, bán với giá 5.000.000 đồng. D1 thấy xe không giấy tờ, không biển số, biết rõ xe do M1 và T trộm cắp mà có nhưng vì ham rẻ nên D1 đồng ý mua, trả giá 4.000.000 đồng, M1 đồng ý bán. Số tiền bán xe có được, T và M1 chia nhau mỗi người 2.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua xe, D1 sợ bị phát hiện nên đã mua sơn màu trắng về sơn lại xe. Ông H1 sau khi phát hiện bị mất xe đã đến Công an xã H trình báo. Công an xã H tiếp nhận tin báo, tiến hành xác minh, đến ngày 23/10/2024, mời T, M1 và D1 làm việc, cả ba đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Công an xã H đã thu giữ cờ lê bằng kim loại dài 13,5cm, loại 10 ly từ T; xe mô tô không gắn biển số (xe 86B3-640.51) từ D1 và xe mô tô biển số 86B2-315.89 từ M1.

+ Lần thứ năm: khoảng 12 giờ ngày 20/10/2024, T và M1 rủ nhau đi trộm cắp xe mô tô, T điều khiển xe mô tô biển số 86B2-315.89 chở M1 chạy đến xã H. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi ngang qua nhà bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1963, ở thôn B, xã H, T và M1 thấy nhà đóng cửa, không có người trông coi, bên trong nhà có để xe mô tô biển số 86B3-071.22, hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ-đen. M1 nói T đứng ở ngoài cảnh giới để M1 vào lấy trộm xe. M1 lấy 01 thanh sắt bên hông nhà, cậy khung cửa sổ bằng gỗ keo lá tràm, kích thước (1,25 x 0,9)m làm hư hỏng, gãy 04 song cửa sổ, song 01 và song 02 cùng có kích thước (1,25 x 0,04 x 0,04)m, song 03 và song 04 cùng có kích thước (0,9 x 0,04 x 0,04)m. Sau khi cậy cửa, M1 đột nhập vào bên trong nhà, đi đến chỗ xe mô tô biển số 86B3-071.22 thì thấy chìa khóa cắm sẵn trên xe. M1 mở cửa chính bên hông nhà, dắt xe mô tô biển số 86B3-071.22 ra khỏi nhà, nổ máy, điều khiển xe mô tô chạy về hướng xã H; T điều khiển xe mô tô biển số 86B2-315.89 chạy theo. Trên đường đi, M1 và T dừng xe, T dùng cờ lê bằng kim loại dài 13,5cm, loại 10 ly tháo biển số 86B3-071.22 vứt bỏ (không rõ nơi vứt). Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 86B2-315.89, M1 điều khiển xe mô tô biển số 86B3-071.22 (không gắn biển số) đến nhà Trương Văn D1. M1 nói với D1 xe vừa trộm được ở xã H, bán với giá 1.500.000 đồng. D1 thấy xe không giấy tờ, không biển số, biết rõ xe do M1 và T trộm cắp mà có nhưng vì ham rẻ nên D1 đồng ý mua, trả giá 1.200.000 đồng, M1 đồng ý bán. Số tiền bán xe có được, T và M1 chia nhau mỗi người 600.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Bà C sau khi phát hiện bị mất xe đã đến Công an xã H trình báo. Công an xã H tiếp nhận tin báo, tiến hành xác minh, mời T, M1 và D1 làm việc, cả ba đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Công an xã H đã thu giữ xe mô tô không gắn biển số (xe 86B3-071.22) từ D1.

Kết luận định giá tài sản số 83/KL-HĐĐGTS ngày 25/10/2024 và số 90/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận:

  • 01 xe mô tô biển số 86B3-640.51, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, dung tích 149cm³, xe đăng ký lần đầu tháng 9/2018, xe đã qua sử dụng, xe hoạt động bình thường. Thời điểm định giá ngày 18/10/2024. Trị giá 14.500.000 đồng.
  • 01 xe mô tô biển số 86B3-610.34, nhãn hiệu Honda, màu sơn xám - đen, số loại Airblade, dung tích 124cm³, xe đăng ký lần đầu 4/2018, đã qua sử dụng. Thời điểm định giá ngày 06/10/2024. Trị giá 22.000.000 đồng.
  • 01 xe mô tô biển số 86C1-420.95, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn xanh - đen, loại xe hai bánh, số loại Exciter, dung tích 134cm³, xe đăng ký lần đầu 12/2014, đã qua sử dụng. Thời điểm định giá ngày 16/10/2024. Trị giá 17.000.000 đồng.
  • 01 xe mô tô biển số 86C1-313.65, nhãn hiệu Suzuki, màu sơn xanh - trắng, loại xe hai bánh, số loại Axelo, dung tích 124cm³, xe đăng ký lần đầu 11/2013, đã qua sử dụng. Thời điểm định giá ngày 17/10/2024. Trị giá 5.500.000 đồng.
  • 01 xe mô tô biển số 86B3-071.22, nhãn hiệu Yamaha, loại xe hai bánh, số loại Sirius, màu sơn đỏ - đen, dung tích 110cm³, xe đăng ký lần đầu 9/2011, đã qua sử dụng. Thời điểm định giá ngày 20/10/2024. Trị giá 8.500.000 đồng.
  • Tổng trị giá tài sản định giá là 67.500.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 10/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận:

01 khung cửa sổ bằng gỗ keo lá tràm, kích thước (1,25 x 0,9)m, bị hư hỏng 04 song cửa, kích thước mỗi song là (1,25 x 0,04 x 0,04)m, (1,25 x 0,04 x 0,04)m, (0,9 x 0,04 x 0,04)m và (0,9 x 0,04 x 0,04)m, khung cửa được lắp đặt vào năm 2019, đã qua sử dụng. Thời điểm định giá ngày 20/10/2024. Trị giá 737.250 đồng.

Vật chứng thu giữ và xử lý gồm:

  • Xe mô tô biển số 86B3-610.34 của bà Đỗ Thị Thùy L.
  • Xe mô tô biển số 86C1-420.95 của ông Nguyễn Minh T1.
  • Xe mô tô biển số 86C1-313.65 cùng giấy đăng ký xe số 036786 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 05/11/2013 của ông Nguyễn Ngọc D.
  • Xe mô tô biển số 86B3-640.51 của ông Nguyễn Điễn H1.
  • Xe mô tô biển số 86B3-071.22 của bà Nguyễn Thị C.
  • Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 20/02/2024 cho Ngô Xuân M1.

Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại các xe mô tô trên lần lượt cho bà Đỗ Thị Thùy L, ông Nguyễn Minh T1, ông Nguyễn Ngọc D, ông Nguyễn Điễn H1, bà Nguyễn Thị C và trả lại căn cước công dân trên cho Ngô Xuân M1 là những chủ sở hữu.

01 cờ lê bằng kim loại dài 13,5cm, loại 10 ly, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ra Quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý.

01 thẻ nhớ MicroSD HC, dung lượng 08GB, bên trong có chứa 02 file video: 01 video, định dạng Mp4, tên video: 5961627675776, dung lượng 12,9 MB, thời lượng 50 giây và 01 video, định dạng Mp4, tên video: 5961627978594, dung lượng 5,15 MB, thời lượng 42 giây, cả 02 file video ghi lại diễn biến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 16/10/2024 tại nhà ông Nguyễn Viết Đ2, ở khu phố P, thị trấn P là chứng cứ của vụ án nên chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

Đối với xe mô tô biển số 86B2-315.89, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xác định được lai lịch của người tên B2 ở huyện B nên không làm rõ được chủ sở hữu. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục tạm giữ để xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Biển số xe 86B3-640.51 và biển số xe 86B3-071.22, Công an xã H và Công an xã H đã truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về dân sự:

Bà Nguyễn Thị C yêu cầu Lê Văn T và Ngô Xuân M1 bồi thường chi phí làm lại biển số xe 86B3-071.22 với số tiền là 800.000 đồng và chi phí sửa chữa 04 song cửa sổ bị hư hỏng với số tiền là 1.700.000 đồng, tổng cộng là 2.500.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Gái H2 yêu cầu Lê Văn T và Ngô Xuân M1 bồi thường số tiền 4.000.000 đồng. Đến nay, các bị cáo Lê Văn T và Ngô Xuân M1 chưa bồi thường.

Bà Đỗ Thị Thùy L, ông Nguyễn Minh H, ông Nguyễn Minh T1, ông Nguyễn Ngọc D và ông Nguyễn Điễn H1 sau khi nhận lại xe mô tô bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự.

Tại đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, ông Ung Ngọc Á, ông Đỗ Đồng xác N1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Ông Nguyễn Ngọc D không yêu cầu Lê Văn T và Ngô Xuân M1 trả lại số tiền 260.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSHTB ngày 09/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Ngô Xuân M1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: các bị cáo Lê Văn T và Ngô Xuân M1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 56, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Phạt Lê Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; Đề nghị tổng hợp hình phạt 05 năm 06 tháng tù tại bản án số 46/2025/HS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận đã có hiệu lực pháp luật.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Phạt Ngô Xuân M1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Buộc các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các công cụ phạm tội của các bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn, hối hận về việc mình đã làm, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn T và Ngô Xuân M1 khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Từ ngày 06/10/2024 đến ngày 20/10/2024, Lê Văn T và Ngô Xuân M1 đã nhiều lần lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể như sau:

  • + Lần thứ nhất: khoảng 11 giờ ngày 06/10/2024, tại thôn K, xã H, Lê Văn T lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 86B3-610.34 của chị Đỗ Thị Thùy L rồi đem cầm cố cho anh Ung Ngọc Á lấy số tiền 4.500.000 đồng. Trị giá xe bị chiếm đoạt qua định giá là 22.000.000 đồng.
  • + Lần thứ hai: khoảng 03 giờ ngày 16/10/2024, tại khu phố P, thị trấn P, Lê Văn T và Ngô Xuân M1 cùng nhau lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 86C1-420.95 của anh Nguyễn Minh H, sau đó đem đến bán cho anh Đỗ Đồng L1 số tiền 3.000.000 đồng. Trị giá xe bị chiếm đoạt qua định giá là 17.000.000 đồng.
  • + Lần thứ ba: khoảng 03 giờ 44 phút ngày 17/10/2024, tại thôn T, xã H, Lê Văn T và Ngô Xuân M1 cùng nhau lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 86C1-313.65 của anh Nguyễn Ngọc D, bên trong cốp xe có số tiền 260.000 đồng, sau đó đem đến cầm cố cho bà Nguyễn Thị Gái H2 lấy số tiền 4.000.000 đồng. Trị giá xe bị chiếm đoạt qua định giá là 5.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 5.760.000 đồng.
  • + Lần thứ tư: khoảng 11 giờ ngày 18/10/2024, tại thôn G, xã H, Lê Văn T và Ngô Xuân M1 cùng nhau lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 86B3-640.51 của ông Nguyễn Điễn H1. Sau đó, T và M1 điều khiển xe đến nhà Trương Văn D1 ở thôn T, xã H để bán xe, M1 nói với D1 xe do M1 và T trộm cắp mà có nhưng D1 vì ham rẻ nên đồng ý mua với giá 4.000.000 đồng. Trị giá xe bị chiếm đoạt qua định giá là 14.500.000 đồng.
  • + Lần thứ năm: khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/10/2024, tại thôn B, xã H, Lê Văn T và Ngô Xuân M1 cùng nhau lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 86B3-071.22 của bà Nguyễn Thị C. Sau đó, T và M1 tiếp tục điều khiển xe đến nhà Trương Văn D1 để bán xe, M1 nói với D1 xe do M1 và T trộm cắp mà có nhưng D1 vì ham rẻ nên đồng ý mua với giá 1.200.000 đồng. Trị giá xe bị chiếm đoạt qua định giá là 8.500.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản Lê Văn T chiếm đoạt là 67.760.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính của T là 10.600.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Ngô Xuân M1 chiếm đoạt là 45.760.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính của M1 là 6.100.000 đồng.

Bị cáo Lê Văn T có hai tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã bị xét xử với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”, trong thời gian chưa được xóa án tích, T lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là “tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định, 05 lần lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, trị giá mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng và lấy đó làm nguồn sống chính là “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Ngô Xuân M1 đã bị Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 46/2020/HS-ST ngày 25/6/2020, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2024. Sau khi chấp hành án xong, Ngô Xuân M1 lại liên tiếp thực hiện bốn vụ trộm cắp tài sản, trị giá mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng. Bị cáo M1 không có nghề nghiệp ổn định, đều lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính là “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”. Do vậy, hành vi của bị cáo Ngô Xuân M1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được hành vi của mình là xâm phạm tài sản của người khác, là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, xuất phát từ bản chất tham lam, lười lao động, thích hưởng thụ nhưng muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên các bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Các bị cáo lợi dụng lúc không có người trông coi tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản của người dân. Trong vụ án này, bị cáo T thực hiện 5 lần trộm cắp, trong đó có 4 lần cùng thực hiện với bị cáo M1. Xét, cả 4 lần các bị cáo cùng trộm cắp mang tính chất đồng phạm giản đơn. Cả hai có sự thống nhất cao về ý chí, cùng phối hợp thực hiện hành vi trộm cắp, cả hai cùng thực hiện hành vi, bị cáo M1 thực hành, bị cáo Toàn cảnh G. Cả hai bị cáo đều đóng vai trò tích cực ngang nhau, cùng chung ý định đi trộm, số tiền bán được từ việc trộm cắp tài sản đều được chia đều nhau. Do đó, vai trò, tính chất, mức độ của từng bị cáo tại 4 lần các bị cáo cùng trộm cắp là như nhau, các bị cáo phải cùng chịu chung hậu quả, cùng có trách nhiệm bồi thường ngang nhau. Riêng bị cáo T, ngoài việc chịu trách nhiệm đối với 04 lần thực hiện đồng phạm với M1, còn phải chịu trách nhiệm đối với lần bị cáo trộm cắp một mình nên hình phạt phải nghiêm khắc hơn.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo gây bất bình, mất an ninh trật tự tại địa phương là nguy hiểm cho xã hội, tạo tâm lý hoang mang trong nhân dân về việc giữ gìn tài sản nên cần thiết phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Văn T và Ngô Xuân M1 phạm tội hai lần trở lên, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Ngô Xuân M1 đã bị kết án, chưa được xóa án tích, lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, được bị hại bà Nguyễn Thị C xin giảm nhẹ một phần hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo đều có nhân thân xấu, có tiền án nhưng vẫn không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, tu chí làm ăn mà tiếp tục phạm tội. Điều này thể hiện thái độ xem thường pháp luật, kỷ cương xã hội của các bị cáo. Do đó, cần thiết phải lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Riêng bị cáo Lê Văn T, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 05 năm 06 tháng tù tại bản án số 46/2025/HS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận đã có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo.

Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 cờ lê bằng kim loại dài 13,5cm, loại 10 ly là công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 thẻ nhớ MicroSD HC, dung lượng 08GB, bên trong có chứa 02 file video: 01 video, định dạng Mp4, tên video: 5961627675776, dung lượng 12,9 MB, thời lượng 50 giây và 01 video, định dạng Mp4, tên video: 5961627978594, dung lượng 5,15 MB, thời lượng 42 giây, cả 02 file video ghi lại diễn biến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 16/10/2024 tại nhà ông Nguyễn Viết Đ2, ở khu phố P, thị trấn P là chứng cứ của vụ án nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
  • - Đối với xe mô tô biển số 86B2-315.89, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xác định được lai lịch của người tên B2 ở huyện B nên không làm rõ được chủ sở hữu. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục tạm giữ để xác minh, làm rõ, xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự.

Bà Nguyễn Thị C yêu cầu Lê Văn T và Ngô Xuân M1 bồi thường chi phí làm lại biển số xe 86B3-071.22 với số tiền là 800.000 đồng và chi phí sửa chữa 04 song cửa sổ bị hư hỏng với số tiền là 1.700.000 đồng, tổng cộng là 2.500.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Gái H2 yêu cầu Lê Văn T và Ngô Xuân M1 bồi thường số tiền 4.000.000 đồng.

Các bị cáo tự nguyện chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường của bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị Gái H2 là chịu trách nhiệm liên đới bồi thường và thỏa thuận mức bồi thường bằng nhau, cụ thể: mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị C số tiền 1.250.000 đồng; bồi thường cho bà Nguyễn Thị Gái H2 số tiền 2.000.000 đồng.

Xét thấy, việc các bị cáo Lê Văn T và Ngô Xuân M1 đồng ý bồi thường cho bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị Gái H2 theo số tiền mà bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị Gái H2 yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên Tòa ghi nhận.

Riêng bà Đỗ Thị Thùy L, ông Nguyễn Minh H, ông Nguyễn Minh T1, ông Nguyễn Ngọc D, ông Nguyễn Điễn H1, ông Ung Ngọc Á, ông Đỗ Đồng K yêu cầu bồi thường nên Tòa không xem xét giải quyết.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với Trương Văn D1, quá trình điều tra, D1 không có mặt tại nơi cư trú nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định tách vụ án đối với bị can số 2002/QĐ-VPCQCSĐT để tiếp tục điều tra, xử lý D1 trong một vụ án khác là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Văn S có hành vi đẩy giúp xe mô tô biển số 86B3-610.34 cho Lê Văn T nhưng S không biết việc T trộm cắp xe và không có hành vi gì giúp sức cho T trong việc trộm cắp xe nên S không đồng phạm với T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đối với Ung Ngọc Á cầm cố xe mô tô biển số 86B3-610.34; Đỗ Đồng mua xe mô tô biển số 86C1-420.95 và Nguyễn Thị Gái H2 cầm cố xe mô tô biển số 86C1-313.65 của Lê Văn T và Ngô Xuân M1 nhưng Á, Đ1 và H2 không biết các xe trên là tài sản do T và M1 phạm tội mà có nên không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Khi trộm xe mô tô biển số 86B3-071.22 của bà Nguyễn Thị C, Ngô Xuân M1 một mình làm hư hỏng, gãy 04 song cửa sổ có tổng trị giá tài sản qua định giá là 737.250 đồng. Tuy nhiên, M1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” mà còn vi phạm, tái phạm nên không phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Điều 178 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã chuyển hồ sơ đến Công an xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận để xử phạt vi phạm hành chính đối với M1 theo quy định pháp luật.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Lê Văn T);

Đ3 b khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Ngô Xuân M1);

Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 và Điều 357 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn T (tên gọi khác: B), Ngô Xuân M1 (tên gọi khác: N) cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Văn T (tên gọi khác: Ba Ròm) 04 (bốn) năm tù.

Tổng hợp hình phạt 05 năm 06 tháng tù tại bản án số 46/2025/HS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, buộc bị cáo Lê Văn T (tên gọi khác: Ba R) phải chấp hành hình phạt 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2024.

Xử phạt: Ngô Xuân M1 (tên gọi khác: N) 02 (hai) năm 09 (tháng) tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2024.

Về trách nhiệm dân sự:

Các bị cáo Lê Văn T (tên gọi khác: Ba R) và Ngô Xuân M1 (tên gọi khác: N) phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà Nguyễn Thị C tổng số tiền 2.500.000 đồng; bồi thường cho bà Nguyễn Thị Gái H2 tổng số tiền 4.000.000 đồng. Được chia:

  • - Bị cáo Lê Văn T có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị C số tiền 1.250.000 đồng; bồi thường cho bà Nguyễn Thị Gái H2 số tiền 2.000.000 đồng.
  • - Bị cáo Ngô Xuân M1 có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị C số tiền 1.250.000 đồng; bồi thường cho bà Nguyễn Thị Gái H2 số tiền 2.000.000 đồng.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 cờ lê bằng kim loại dài 13,5cm, loại 10 ly.

Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/4/2025.

Về án phí:

Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Ngô Xuân M1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện HTB;
  • - Phân trại tạm giam khu vực HTB;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 82/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger