|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 82/2025/HS-ST
Ngày: 14-4-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hoàng
- Bà Võ Kim Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Ngọc Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thảo L, sinh năm 1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 2 T, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: B K, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Thu L1; hoàn cảnh gia đình: Có chồng và 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án: không; tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2024 – Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo L: Ông Đặng Minh C và bà Lê Thị Thu T - Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.
Địa chỉ: 7 T, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Thảo L mua bán ma túy đá được khoảng 02 tháng, L mua ma túy của một người phụ nữ tên N (chưa rõ lai lịch) ở hẻm FN, Phường B, Quận D, để bán lại cho các con nghiện kiếm lời. Vào khoảng 19 giờ ngày 12/7/2024, Trương Thị Hồng N1 nhắn tin qua Zalo cho L để đặt mua 1.000.000 đồng ma túy đá cùng dụng cụ sử dụng ma túy “nỏ”. Khi đó, L báo giá nỏ là 100.000 đồng, tiền công ship ma túy và nỏ là 100.000 đồng và tiền ma túy là 1.000.000 đồng thì N1 đồng ý. Sau đó N1 sử dụng tài khoản số 0936966812 tên TRUONG THỊ HONG NHUNG mở tại M chuyển số tiền 1.200.000 đồng đến tài khoản số 38587773 tên NGUYEN THỊ THAO LY mở tại Ngân hàng V1 để trả tiền cho L. Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, L đặt xe Grab rồi mang túi nylon bên trong có ma túy đá cùng dụng cụ sử dụng ma túy “nỏ” qua nhà bạn là Phan Ngọc B để nhờ B chở đi công việc rồi đi ăn tối, B đồng ý và sử dụng xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 59U1-696.81 chở L đến trước địa chỉ số A T, phường H, quận T. Sau đó, L xuống xe đi bộ đến trước số A T đưa túi nylon bên trong có ma túy đá cùng dụng cụ sử dụng ma túy cho N1. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi B điều khiển xe gắn máy biển số 59U1-696.81 chở L đến trước địa chỉ số A Hòa Bình, phường H, quận T, thì bị Tổ tuần tra 363 Công an quận T kiểm tra mời về làm việc.
Ngoài ra, Nguyễn Thị Thảo L trình bày vào buổi tối cách đây khoảng 07 ngày, L cũng bán cho N1 gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng và tiền công giao ma túy là 100.000 đồng tại trước chung cư Đ T, phường P, quận T. Nguyễn Thị Thảo L đã thu lợi từ việc bán ma túy là 5.000.000 đồng. Số ma túy mà N1 mua của L vào ngày 12/7/2024, thì N1 đã vứt bỏ vào bồn cầu rồi nhấn nút xả trôi hết.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Nguyễn Thị Thảo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản Kết luận giám định số 8395/KL-KTHS ngày 22/7/2024 của Phòng K2 Công an Thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng được kí hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,6239g, loại Methamphetamine”. Đây là số ma túy thu giữ tại nhà của Nguyễn Thị Thảo L dùng để bán kiểm lời. (Bút lục 34).
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại Iphone 15 Promax, số Imei 1: 358797332918753, số Imei 2: 388797332997781, là điện thoại Ly sử dụng để liên lạc mua bán ma túy;
- 01 cân điện tử;
- 10 gói nylon chưa qua sử dụng;
- 06 ống hút nhựa;
- 02 bộ sử dụng ma túy.
Đây là các dụng cụ L sử dụng để bán ma túy.
- 01 gói niêm phong bên ngoài có số 2588/24, chữ ký ghi tên Lê Nam H, chữ ký và dấu tên Đại úy Bùi Công K1, bên trong chứa tinh thể sau giám định. Là ma túy thu giữ tại nhà của L.
Tại Bản cáo trạng số: 65/CT-VKSQTP ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thảo L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thảo L từ: 08 năm đến 09 năm tù.
Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có con nhỏ, mới bán ma túy lần đầu, tiền thu lợi để trang trải cuộc sống cho gia đình, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú không đồng ý cho bị cáo được hưởng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình do bị cáo không đủ điều kiện.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thảo L thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Ngày 12/7/2024, tại trước địa chỉ số A T, phường H, quận T, Nguyễn Thị Thảo L có hành vi mua bán trái phép chất ma túy đá cho Trương Thị Hồng N1 với giá 1.200.000 đồng. Ngoài ra, trước đó khoảng 07 ngày, Nguyễn Thị Thảo L cũng bán ma túy đá cho N1 với giá 1.000.000 đồng và tiền công giao ma túy là 100.000 đồng tại trước chung cư Đ địa chỉ số B T, phường P, quận T. Nguyễn Thị Thảo L đã thu lợi từ việc bán ma túy cho các con nghiện là 5.000.000 đồng. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo L theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, không những gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an, đến sức khỏe của con người, làm lây lan tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội mà còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm về ma túy và các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo là người đã thành niên nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo vẫn cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.
Đối với Trương Thị Hồng N1 và Phan Ngọc B qua xét nghiệm dương tính với ma túy đá, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã chuyển hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
Đối với anh Phan Ngọc B do L nhờ chở đi công việc, không biết việc L đi bán ma túy nên chưa đủ cơ sở để xử lý về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
Đối với đối tượng tên N (không rõ lai lịch) bán ma túy cho L và V (không rõ lai lịch) là người giới thiệu L cho N1 mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đang truy xét, khi nào bắt được sẽ xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo L tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy: Luật sư đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có cơ sở nên chấp nhận, việc luật sư đề nghị cho bị cáo được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình là không đúng qui định nên không chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phải nộp lại tiền thu lợi bất chính, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tại cơ quan điều tra và trong phiên tòa hôm nay, bị cáo Ly khai thu lợi được 5 triệu đồng từ việc mua bán ma túy. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo nộp lại để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại Iphone 15 Promax, số Imei 1: 358797332918753, số Imei 2: 388797332997781, là điện thoại L sử dụng để liên lạc mua bán ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 cân điện tử là dụng cụ bị cáo L sử dụng để bán ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 gói niêm phong bên ngoài có số 2588/24, chữ ký ghi tên Lê Nam H, chữ ký và dấu tên Đại úy Bùi Công K1, bên trong chứa tinh thể sau giám định. Là ma túy thu giữ tại nhà của L. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng cấm lưu hành do đó cần tịch thu tiêu hủy.
- 10 gói nylon chưa qua sử dụng; 06 ống hút nhựa; 02 bộ sử dụng ma túy. Là các dụng cụ L sử dụng trong việc bán ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ Điều 251 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thảo L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy"
[2] Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thảo L 08 (tám) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2024
[3] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật sự hình.
Buộc bị cáo nộp lại số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), tiền thu lợi bất chính để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy: 10 gói nylon chưa qua sử dụng; 01 gói niêm phong bên ngoài có số 2588/24, chữ ký ghi tên Lê Nam H, chữ ký và dấu tên Đại úy Bùi Công K1, bên trong chứa tinh thể sau giám định; 06 ống hút nhựa; 02 bộ sử dụng ma túy.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: - 01 điện thoại Iphone 15 Promax, số Imei 1: 358797332918753, số Imei 2: 388797332997781; 01 cân điện tử.
(Tất cả các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 82/PNK ngày 07/01/2025 của Đội Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an quận T).
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Ngọc Phượng |
Bản án số 82/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 82/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
