|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN Bản án số: 82/2025/HNGĐ-ST Ngày 31 - 12 - 2025 Về việc: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Khánh Linh
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị An
- Bà Tô Thị Thanh Tâm
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dương - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 144/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1984;
Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ D, đường L, tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên.
(Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Chị Đàm Thị Hải Y, sinh năm 1991;
Nơi ĐKHKTT: Số nhà F, đường P, tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên.
Chỗ ở hiện nay: ngõ B, đường P, tổ A Q, phường T, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Vũ Ngọc T trình bày:
Anh và chị Đàm Thị Hải Y tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là phường T, tỉnh Hưng Yên) vào ngày 29 tháng 6 năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, nên thường xảy ra cãi vã. Anh chị đã sống ly thân từ lâu, mỗi người ở một nơi, trong thời gian sống ly thân anh chị đã đồng thuận làm thủ tục ly hôn tuy nhiên vì nghĩ tới con cái nên lại cho nhau thêm cơ hội. Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã diễn ra từ lâu, đến nay anh T thấy không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân được nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể cứu vãn, không thể tìm được tiếng nói chung. Giữa anh chị từ lâu đã không còn sự chia sẻ, quan tâm đến nhau và cũng không còn liên lạc với nhau nữa. Nay anh xác định không còn tình cảm với chị Y nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Y.
Về con chung: Anh chị có hai con chung là Vũ Bảo N, sinh ngày 24/01/2013 và Vũ Bảo M, sinh ngày 20/10/2020. Hiện cả hai con chung đều đang ở cùng với chị Y. Ly hôn, vì lý do công việc bận mải nên anh T có nguyện vọng để chị Y trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và anh T tự nguyện cấp dưỡng cho mỗi con là 2.500.000 đồng/tháng (hai con là 5.000.000 đồng/tháng) cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi. Hiện tôi đang công tác tại Bộ C1, thu nhập bình quân là 6.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 20/01/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn chị Đàm Thị Hải Y trình bày:
Về thời gian, thủ tục và địa điểm đăng ký kết hôn như anh T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau cùng với gia đình anh T ở số nhà A, ngõ D, đường L, tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị không xảy ra mâu thuẫn gì. Từ sau khi sinh con thứ hai, vì lý do đặc thù công việc của anh T lái xe cho lãnh đạo tại Bộ C1 nên không thường xuyên ở nhà, chỉ khi có lịch nghỉ thì anh T mới về với gia đình và mẹ chồng đã già yếu nên chị dẫn các con về bên nhà ngoại ở. Đến khoảng tháng 4/2025 chị và các con ra ở riêng tại địa chỉ: ngõ B, đường P, tổ A Q, phường T, tỉnh Hưng Yên, từ đó đến nay chị và các con đều đang ở địa chỉ trên. Trong thời gian chị và các con ở bên ngoại, anh T mỗi lần về đều qua bên ngoại để ở, sinh hoạt cùng với mẹ con chị. Thỉnh thoảng mẹ con chị vẫn về bên bà nội thăm bà nội khi không có anh T ở nhà. Anh T nói vợ chồng chị sống ly thân từ năm 2023 là không đúng, do đặc thù công việc của anh T ít về nhưng vợ chồng vẫn sinh hoạt ăn uống cùng gia đình và các con. Từ khi anh T nộp đơn xin ly hôn đến nay, vợ chồng chị cũng có một lần ngồi nói chuyện, trao đổi với nhau nhưng không có kết quả. Một phần là do ngày hôm đó anh T có cuộc điện thoại yêu cầu phải đi luôn nên hai vợ chồng không có thời gian dài để nói chuyện. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án giải quyết về việc ly hôn giữa anh T và tôi, giữa anh chị chưa có điều kiện để ngồi nói chuyện để trao đổi, trò chuyện với nhau lần nào nữa để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay anh T có đơn xin ly hôn chị, chị không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái và vun đắp hạnh phúc gia đình.
Về con chung: Anh chị có hai con chung là Vũ Bảo N, sinh ngày 24/01/2013 và Vũ Bảo M, sinh ngày 20/10/2020. Hiện cả hai con chung đang ở cùng với chị. Cháu N đang học lớp 7A4 trường THCS T1, phường T, tỉnh Hưng Yên và cháu Minh H lớp mầm non 05 tuổi. Trường hợp anh T vẫn kiên quyết xin ly hôn thì chị Y cũng đồng ý với nguyện vọng được nuôi cả hai con chung, anh T đóng góp tiền cấp dưỡng cho mỗi con là 2.500.000đồng/tháng (hai con là 5.000.000 đồng/tháng) đến khi mỗi con đủ 18 tuổi. Hiện nay chị Y đang làm kiểm tra giám sát của Đội Quản lý khu vực Vũ Thư - Điện lực H1. Thu nhập bình quân 5.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản xác minh, bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1950; Trú tại: Số nhà A, ngõ D, đường L, tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên (là mẹ đẻ anh Vũ Ngọc T) trình bày:
Anh Vũ Ngọc T và chị Đàm Thị Hải Y có đăng ký kết hôn hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống cùng với bà, đến khi sinh cháu thứ hai thì do anh T thường xuyên đi làm xa, bà lại già yếu không chăm sóc, đỡ đần chị Y được nên chị Y và hai con nhỏ đã về nhà ngoại ở. Tuy nhiên, chị Y vẫn thường xuyên qua lại chăm sóc bà. Trong thời gian chung sống, anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nhưng mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì bà không nắm rõ. Từ ngày chị Y chuyển về nhà ngoại ở anh T và chị Y không ở chung nhà với nhau. Nay anh T có đơn xin ly hôn chị Y, quan điểm của gia đình là đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được hòa giải, đoàn tụ để chăm lo cho hai con nhỏ. Về con chung: Anh chị có hai con chung là Vũ Bảo N, sinh ngày 24/01/2013 và Vũ Bảo M, sinh ngày 20/10/2020. Hiện cả hai cháu đang ở với chị Y. Trường hợp anh chị ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ theo nguyện vọng của anh chị và các cháu để giải quyết. Về tài sản: Trong quá trình chung sống tại gia đình bà, anh chị không đóng góp gì vào khối tài sản chung của bà. Giữa anh T, chị Y có tài sản chung hay nợ chung gì thì bà không biết.
* Biên bản xác minh ngày 29/10/2025, ông Lê Ngọc D là Tổ trưởng tổ A K, phường T, tỉnh Hưng Yên cung cấp:
Anh T, chị Y có đăng ký kết hôn hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A K, phường T, tỉnh Hưng Yến. Chị Y không ở địa phương nhưng vẫn thường xuyên qua lại nhà bà C. Anh T cũng đi làm ăn xa, ít khi ở nhà. Địa phương biết giữa anh chị có mâu thuẫn nhưng không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể là gì. Nay anh T có đơn xin ly hôn chị Y, đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị. Trường hợp anh T kiên quyết xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Anh chị có hai con chung là Vũ Bảo N, sinh ngày 24/01/2013 và Vũ Bảo M, sinh ngày 20/10/2020. Hiện hai cháu đang ở cùng với chị Y. Ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về tài sản: Địa phương không nắm được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại biên bản xác minh, bà Phạm Thị N1, sinh năm 1954; Trú tại: Số nhà F, đường P, tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên (là mẹ đẻ chị Đàm Thị Hải Y) trình bày:
Anh T chị Y có đăng ký kết hôn hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại gia đình anh T, nhưng đến khi chị Y sinh cháu thứ hai vào năm 2020, do anh T đi làm xa, mẹ chồng không đỡ đần được chị chăm con nên chị đưa hai con về nhà bà ở. Trong thời gian ở nhà bà, chị Y vẫn thường xuyên về nhà mẹ chồng sinh hoạt. Trong quá trình chung sống anh chị sống xa nhau nên có nghi ngờ nhau, anh T nghi ngờ chị Y nhưng chị Y không có lỗi gì, đã có lần anh T đánh chị Y nhưng gia đình bà đã bỏ qua. Nay anh T có đơn xin ly hôn chị Y, gia đình không đồng ý, đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị đoàn tụ. Về con chung: Anh chị có hai con chung là Vũ Bảo N, sinh ngày 24/01/2013 và Vũ Bảo M, sinh ngày 20/10/2020. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị đoàn tụ để chăm sóc con cái. Về tài sản: Gia đình bà không nắm được.
* Biên bản xác minh ngày 06/11/2025, ông Đỗ Minh L là Tổ trưởng tổ A B, phường T, tỉnh Hưng Yên cung cấp:
Anh T chị Y có đăng ký kết hôn hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng gia đình anh T tại tổ A K, phường T, tỉnh Hưng Yên. Địa phương được biết sau khi sinh con thứ hai, khoảng cuối năm 2020 vì mẹ chồng già yếu và anh T đi làm ăn xa nên chị Y cùng hai con đã về nhà ngoại ở. Giữa anh T chị Y có mâu thuẫn gì hay không thì địa phương không nắm được. Nay anh T có đơn xin ly hôn chị Y, địa phương đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật để giải quyết. Về con chung: Anh chị có hai con chung là Vũ Bảo N, sinh ngày 24/01/2013 và Vũ Bảo M, sinh ngày 20/10/2020. Hiện cả hai cháu đang ở cùng với chị Y và ông bà ngoại. Trường hợp ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về tài sản: Anh chị có tài sản chung hay nợ chung gì của ai hay không thì địa phương không nắm được.
* Giấy xác nhận thu nhập của Văn phòng Bộ C1 đối với anh Vũ Ngọc T: Hiện anh T làm lái xe của cơ quan hiện tổng lương và các khoản thu nhập theo lương đã chuyển khoản từ tháng 9/2025 đến tháng 11/2025 cho anh T qua Văn phòng của Bộ C1 là 30.324.161 đồng, như vậy bình quân lương của anh Vũ Ngọc T là khoảng 10.000.000 đồng/tháng.
* Đơn xin xác nhận công tác của chị Đàm Thị Hải Y thể hiện: Chị Y đang làm việc tại tổ kiểm tra giám sát mua bán điện - Đội quản lý điện lực khu vực H1 thu nhập của chị Y là 5.000.000 đồng/tháng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Vũ Ngọc T ly hôn với chị Đàm Thị Hải Y. Về con chung: Căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị xử giao hai con chung là Vũ Bảo N, sinh ngày 24/01/2013 và Vũ Bảo M, sinh ngày 20/10/2020 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T tự nguyện cấp dưỡng cho mỗi con 2.500.000 đồng/tháng (hai con là 5.000.000 đồng/tháng) cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi. Về tài sản: Anh chị không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn anh Vũ Ngọc T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại phường T, tỉnh Hưng Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung 1 số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án số 85/2025/QH15.
[1.2] Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự đến phiên tòa để tham gia tố tụng, nhưng nguyên đơn anh Vũ Ngọc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Đàm Thị Hải Y có mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn, có mặt bị đơn.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Vũ Ngọc T và chị Đàm Thị Hải Y được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 29/6/2012 tại Ủy ban nhân dân phường K, thành phố T (nay là phường T, tỉnh Hưng Yên), khi kết hôn các bên đều đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, do đó là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh T trình bày vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã; vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, không còn quan tâm, chia sẻ với nhau. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Về phía chị Y, mặc dù không đồng ý ly hôn và cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì, tuy nhiên từ khi anh T nộp đơn khởi kiện và Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, chị Y không đưa ra được biện pháp thiết thực nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân; giữa anh chị không gặp gỡ, trao đổi nhằm khôi phục tình cảm vợ chồng. Thực tế cho thấy vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau, mỗi người sinh hoạt tại một nơi, không còn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh T và chị Y là có thật, đã kéo dài, tình trạng hôn nhân đã lâm vào trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn tụ. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Vũ Ngọc T, xử cho anh T được ly hôn với chị Đàm Thị Hải Y là phù hợp với quy định pháp luật và thực tế quan hệ hôn nhân của các bên.
[2.2] Về con chung: Anh Vũ Ngọc T và chị Đàm Thị Hải Y có hai con chung là Vũ Bảo N, sinh ngày 24/01/2013 và Vũ Bảo M, sinh ngày 20/10/2020. Hiện nay các con chung đang sinh sống cùng chị Y. Ly hôn anh T có nguyện vọng để chị Y trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và tự nguyện cấp dưỡng cho mỗi con 2.500.000 đồng/tháng (hai con là 5.000.000 đồng/tháng) cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi. Về phía chị Y cũng đồng ý với nguyện vọng của anh T để chị trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và anh T tự nguyện cấp dưỡng cho mỗi con. Xét điều kiện thực tế hiện nay, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên, để đảm bảo sự ổn định và điều kiện cuộc sống tốt nhất cho các con nên giao cả hai con chung Vũ Bảo N và Vũ Bảo M cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về cấp dưỡng cho con: Chấp nhận sự tự nguyện của anh T cấp dưỡng cho mỗi con là 2.500.000 đồng/tháng (hai con là 5.000.000 đồng/tháng) cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi.
[2.4] Về tài sản: Anh T, chị Y không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[3] Về án phí: Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 235; 238; 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung 1 số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án số 85/2025/QH15;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho anh Vũ Ngọc T được ly hôn chị Đàm Thị Hải Y.
- Về con chung: Xử giao cả hai con chung là Vũ Bảo N, sinh ngày 24/01/2013 và Vũ Bảo M, sinh ngày 20/10/2020 cho chị Đàm Thị Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng cho con: Anh T tự nguyện cấp dưỡng cho mỗi con là 2.500.000 đồng/tháng (hai con là 5.000.000 đồng/tháng), kể từ tháng 01/2026 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi.
Anh T có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng cho con được đặt ra giải quyết khi cần thiết.
- Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Anh Vũ Ngọc T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tổng cộng là 600.000 đồng. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh T đã nộp tạm ứng án phí tại Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001813 ngày 07/10/2025 thành án phí. Anh T còn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Vũ Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn chị Đàm Thị Hải Y có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/12/2025.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Khánh Linh |
Bản án số 82/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN về ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 82/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn, nuôi con khi ly hôn
