|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28-03-2025.
V/v tranh chấp xin ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Văn Đen.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Kim Lên;
2. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Thuý Vân – Thư ký tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Ngày 28 tháng 03 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Trần Minh T. Sinh năm: 1988 (có mặt).
- - Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Cẩm G. Sinh năm: 1995 (xin vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và tại phiên toà, ông Trần Minh T trình bày:
Về hôn nhân: Ông T và bà G kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện T, tỉnh An Giang, việc kết hôn là tự nguyện. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn được ông T xác định là trong thời gian chung sống vợ chồng không hòa hợp với nhau, quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tự hàn gắn được, hiện tại vợ chồng đã ly thân. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, ông T xác định tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục. Nay ông T yêu cầu được ly hôn với bà G.
Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Khánh H, sinh ngày 25/09/2012 hiện đang chung sống cùng ông T, khi ly hôn ông yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm G trình bày tại bản tự khai ngày 10/3/2025:
Bà G đồng ý ly hôn với ông T, đồng ý giao con chung tên Trần Khánh H, sinh ngày 25/09/2012 cho ông Trần Minh T tiếp tục nuôi dưỡng, tài sản chung nợ chung không có. Do đi làm việc ở Bình Dương nên bà G yêu cầu Toà án tiến hành xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm G có nơi cư trú tại khóm E, TT. T, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà G nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "tranh chấp xin ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà G có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ theo Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt bà G theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông bà tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện T, tỉnh An Giang đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện vợ chồng đã ly thân nhau. Ông T xác định không còn tình cảm vợ chồng với bà G và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Trường hợp nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của ông T được ly hôn với bà G.
[3] Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Khánh H, sinh ngày 25/09/2012 hiện đang chung sống cùng ông T, khi ly hôn ông yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con chung.
Cháu Trần Khánh H từ trước đến nay đều chung sống cùng ông T, điều kiện hoàn cảnh sống của cháu tốt, cháu có nguyện vọng được sống cùng ông T và bà G cũng đồng ý giao cháu H cho ông T nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh sống của cháu nên giao cháu cho ông T nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp và tốt nhất với cháu. Bà G không phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi dưỡng con chung có khó khăn, vất vả và không có khả năng nuôi dưỡng con chung thì ông T có quyền khởi kiện thành một vụ kiện khác về cấp dưỡng nuôi con. Bà G không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở việc thăm nom con chung của bà G.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự tự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau này nếu có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện ở vụ án khác.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc ông T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình; Bà G không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh T về việc yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Thị Cẩm G.
- Về con chung: Giao con chung tên Trần Khánh H, sinh ngày 25/09/2012 cho ông Trần Minh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Bà Huỳnh Thị Cẩm G không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Bà G không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Ông Trần Minh T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Ông có dự nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005249 ngày 25/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Đen |
Bản án số 82/2025/HNGĐ-ST ngày 28/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 82/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn
