Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

Bản án số: 82/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 15/4/2025

V/v "Tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh

Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP . Biên Hòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 350/2025/TLST – HNGĐ ngày 04/3/2025, về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/3/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Kim T, sinh năm 1993

Địa chỉ: Tổ A, khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Trần Duy P, sinh năm 1987

Địa chỉ: Số A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Ông P hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ).

(Các đương sự có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Vũ Thị Kim T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Duy P kết hôn với nhau vào năm 2021, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 84/2021 ngày 20/4/2021, hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau, hay cãi vã. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông P để trả tự do cho nhau.

- Về con chung: Bà và ông T1 có 01 con chung tên Trần Ngọc Thiên K, sinh ngày 11/8/2020. Ly hôn, bà xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu K. Tạm thời, bà không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

* Bị đơn ông Trần Duy P có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại bản tự khai ngày 14 tháng 3 năm 2025 (tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ) ông P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở tự nguyện, ông và bà T kết hôn với nhau vào năm 2021, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 84/2021 ngày 20/4/2021, hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hiện nay ông đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như bà T trình bày là đúng. Nay xét tình cảm không còn, bà T nộp đơn xin ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Ông và bà T có 01 con chung tên Trần Ngọc Thiên K, sinh ngày 11/8/2020. Ly hôn, ông đồng ý giao cháu Trần Ngọc Thiên K cho bà Vũ Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời, ông không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo qui định pháp luật.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Vũ Thị Kim T. Bà Vũ Thị Kim T được ly hôn với ông Trần Duy P.

- Về con chung: Xét thấy, cháu Trần Ngọc Thiên K, sinh ngày 11/8/2020 chưa đến tuổi trưởng thành, bà T xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu K và ông P cũng đồng ý giao con cho bà P nuôi dưỡng nên giao cháu K cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp. Tạm thời, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Vũ Thị Kim T xin ly hôn với ông Trần Duy P. Ông P có địa chỉ tại phường T, thành phố B và hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ (thành phố B). Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Vũ Thị Kim T và bị đơn ông Trần Duy P đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo qui định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án xét xử vắng mặt các bên đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: ông P và bà T kết hôn với nhau vào năm 2021, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 84/2021 ngày 20/4/2021 trên cơ sở cả hai tự nguyện nên áp dụng Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 xác định là quan hệ là hôn nhân hợp pháp theo quy định.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn đoàn tụ nhưng bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do hai vợ chồng đã sống ly thân (ông P hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ) và cương quyết xin ly hôn với ông P để trả tự do cho nhau. Tại bản tự khai ngày 14/3/2025, ông P cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng và đồng ý ly hôn với bà T.

Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông P là có thật, được các bên thừa nhận, hiện cả hai không thể tìm được tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn. Hơn nữa, hiện nay ông P đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ, hai vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau trong một thời gian dài nên mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, nay bà T xin ly hôn với ông P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

[4] Về con chung: Bà T và ông P có 01 con chung tên Trần Ngọc Thiên K, sinh ngày 11/8/2020. Ly hôn, bà T xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu K; bà không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Ông P cũng đồng ý về vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với con chung như bà T yêu cầu. Do đó, giao cháu Trần Ngọc Thiên K, sinh ngày 11/8/2020 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T, ông P trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[7] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 227, Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị Kim T, cho bà Vũ Thị Kim T được ly hôn với ông Trần Duy P.

- Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc Thiên K, sinh ngày 11/8/2020 cho bà Vũ Thị Kim T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời, ông Trần Duy P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì không trực tiếp nuôi con nên ông Trần Duy P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo thủ tục do pháp luật quy định.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về án phí HNGĐ-ST : Bà Vũ Thị Kim T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà T đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0005939 ngày 26/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa. Bà T đã nộp xong án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.

Nơi nhận

  • - Toà án tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - THADS TP. Biên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu VP – HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 82/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Tr xin ly hôn ông P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger