Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2025/HNGĐ-ST

Ngày 11-4-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Thanh Hải

Ông Đỗ Trọng Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 57/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Q, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số F, hồ N, thôn N, thị trấn T, huyện G, Đài Loan; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Đào Văn T; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố N, phường A, quận A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Đường Đ, phường D, thành phố C, Đài Loan; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện (đã được hợp pháp hóa lãnh sự), nguyên đơn là chị Phạm Thị H trình bày:

Chị Phạm Thị H và anh Đào Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 15/9/2010. Thời gian đầu kết hôn, chị H và anh T chung sống hạnh phúc, hòa thuận đến năm 2020 anh T sang Đài Loan để xây dựng kinh tế gia đình thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Chị H cũng sang Đài Loan sinh sống vào năm 2021 nhưng không chung sống cùng anh T. Thời gian ở nước ngoài, mâu thuẫn giữa vợ chồng trở nên trầm trọng hơn, tình cảm ngày càng phai nhạt. Nguyên nhân chủ yếu là do chị H và anh T bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung. Mặc dù, hai vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, được gia đình hai bên động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả.

Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Đào Văn T.

Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Đào Văn T có một con chung là Đào Hải Y, sinh ngày 08/3/2014, hiện nay đang ở với bà nội là bà Ngô Thị N, sinh năm 1963; địa chỉ: TDP N, phường A, quận A, thành phố Hải Phòng. Nay ly hôn, chị H đề nghị giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H đề nghị anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền là 2.000.000đ (hai triệu đồng) mỗi tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai (đã được hợp pháp hóa lãnh sự), bị đơn là anh Đào Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị H về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh Đào Văn T đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh Đào Văn T được ly hôn với chị Phạm Thị H.

Về con chung: Anh Đào Văn T và chị Phạm Thị H có một con chung là Đào Hải Y, sinh ngày 08/3/2014, hiện nay đang ở với bà nội là bà Ngô Thị N, sinh năm 1963; địa chỉ: TDP N, phường A, quận A, thành phố Hải Phòng. Nay ly hôn, anh T thống nhất với chị H về việc giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, anh T đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền là 2.000.000đ (hai triệu đồng) mỗi tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung: Anh Đào Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và con chung với anh Đào Văn T nên quan hệ pháp luật là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Nguyên đơn là chị Phạm Thị H và bị đơn là anh Đào Văn T hiện đang ở Đài Loan, cùng có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Phạm Thị H và bị đơn là anh Đào Văn T vắng mặt nhưng cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Đào Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 15/9/2010. Theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong thời gian sinh sống ở nước ngoài, chị H và anh T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn. Đến nay, vợ chồng anh chị đã ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Như vậy, nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H về việc xin ly hôn với anh Đào Văn T.

[4] Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Đào Văn T có một con chung là Đào Hải Y, sinh ngày 08/3/2014, hiện nay đang ở với bà nội là bà Ngô Thị N, sinh năm 1963; địa chỉ: TDP N, phường A, quận A, thành phố Hải Phòng. Ly hôn, chị H và anh T cùng yêu cầu giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Con chung có nguyện vọng được ở với chị H trong trường hợp chị H và anh T ly hôn. Nhận thấy việc chị H và anh T yêu cầu giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với nguyện vọng của con chung và phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Anh T đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền là 2.000.000đồng/01 tháng như chị H yêu cầu. Xét thấy mức cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/01 tháng là phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện sinh hoạt của con chung Đào Hải Y. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân gia đình, ghi nhận sự tự nguyện của chị H và anh T về việc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền là 2.000.000 đồng mỗi tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

[6] Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Đào Văn T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị H và anh Đào Văn T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Đào Văn T.

1.2. Về con chung: Giao con chung Đào Hải Y, sinh ngày 08/3/2014 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con:

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị H và anh Đào Văn T về việc anh Đào Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là Đào Hải Y, sinh ngày 08/3/2014 theo hình thức cấp dưỡng hàng tháng với số tiền là 2.000.000₫ (hai triệu đồng) mỗi tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 05 năm 2025 cho đến khi con chung Đào Hải Y đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày chị Phạm Thị H có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung, nếu anh Đào Văn T chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

1.4. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Đào Văn T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001101 ngày 05 tháng 03 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Đào Văn T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo:

Chị Phạm Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Anh Đào Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND xã An Thắng, huyện An Lão, TP. Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Tuyến

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hải

Đỗ Trọng Tuấn

Nguyễn Xuân Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 82/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger