Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 82/2025/DS-ST

Ngày: 23/5/2025

“V/v tranh chấp

hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Kim Loan

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Văn Tuấn
  2. Ông Nguyễn Văn Sở

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 456/2024/TLST–DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-DS ngày 11/4/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 70/2025/QĐST-DS ngày 29/4/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q (N1);

Địa chỉ: Số B, đường L, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H, chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Mạc Phong V, chức vụ: chuyên viên xử lý Nợ - Trung tâm Xử lý Nợ. Địa chỉ liên hệ: số A đường H, phường F, thành phố T, tỉnh Long An, theo giấy ủy quyền số 023/2024/UQ-BĐH.NCB ngày 25/7/2024.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thái N, sinh năm 1983;

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lâm Văn S, sinh năm 1968;
  2. Bà Ngô Thị C, sinh năm 1971.

Cùng địa chỉ: ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Ông V, ông S, bà C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông N vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2024 và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q (viết tắt N1) do ông Mạc Phong V đại diện trình bày:

Ngày 12/01/2022, ông Nguyễn Thái N có vay vốn tại N1 - Chi nhánh L theo Hợp đồng cho vay số 006/22/HĐCV-9378 ngày 12/01/2022 và khế ước nhận nợ số 01/KUNN/006/22/HĐCV-9378 ngày 12/01/2022, cụ thể: số tiền cho vay 1.600.000.000 đồng, ngày nhận nợ 12/01/2022, thời hạn cho vay: 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân, mục đích vay: hoàn tiền mua bất động sản tại thửa số 555, tờ bản đồ số 39, địa chỉ: xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. Lãi suất kỳ đầu tiên: tại ngày giải ngân đến ngày 12/4/2022 là 11,50%/năm. Lãi suất kỳ tiếp theo: lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của Khách hàng cho thời gian tiếp theo điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức LSV bằng (=) Lãi suất cơ sở (LSCS) cộng (+) 3,50%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi phạt chậm trả lãi: 10%/năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Kỳ hạn trả lãi vay: 01 tháng, tính từ ngày trả lãi vay đầu tiên, ngày trả lãi đầu tiên: 25/01/2022, các ngày trả lãi vay tiếp theo: ngày 25 hàng tháng, ngày trả lãi vay cuối cùng là ngày kết thúc thời hạn vay. Trả nợ gốc: trả hết nợ gốc vào ngày 12/01/2023. Ngày 12/01/2022, N1 đã giải ngân và ông Nguyễn Thái N đã nhận nợ toàn bộ số tiền nêu trên theo Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/006/22/HĐCV-9378 ngày 12/01/2022.

Ngày 30/12/2021, ông Nguyễn Thái N có vay vốn tại N1 - Chi nhánh L theo Hợp đồng cho vay số 942/21/HĐCV-9378 ngày 30/12/2021 và khế ước nhận nợ số 01/KUNN/942/21/HĐCV-9378 ngày 30/12/2021, cụ thể: số tiền cho vay 3.000.000.000 đồng, ngày nhận nợ 31/12/2021, thời hạn cho vay: 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải, mục đích vay: hoàn tiền mua bất động sản tại thửa số 581, tờ bản đồ số 10, địa chỉ: Ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Lãi suất kỳ đầu tiên: tại ngày giải ngân đến ngày 31/3/2022 là 11,50%/năm. Lãi suất kỳ tiếp theo: lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của Khách hàng cho thời gian tiếp theo điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức LSV bằng (=) Lãi suất cơ sở (LSCS) cộng (+) 3.50%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi phạt chậm trả lãi: 10%/năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Kỳ hạn trả lãi vay: 01 tháng, tính từ ngày trả lãi vay đầu tiên, ngày trả lãi đầu tiên: 25/01/2022, các ngày trả lãi vay tiếp theo: ngày 25 hàng tháng, ngày trả lãi vay cuối cùng là ngày kết thúc thời hạn

vay. Trả nợ gốc: trả hết nợ gốc vào ngày 31/12/2022. Ngày 30/12/2021, N1 đã giải ngân và ông Nguyễn Thái N đã nhận nợ toàn bộ số tiền nêu trên theo Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/942/21/HĐCV-9378 ngày 12/01/2022.

Toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Thái N theo hợp đồng cho vay nêu trên được bảo đảm bằng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 581, tờ bản đồ số 10, địa chỉ: Ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ điều chỉnh biến động cho ông Nguyễn Thái N theo hồ sơ số 003978.CN.003 ngày 29/12/2021. Tài sản này bảo đảm cho khoản vay của ông N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 942/21/HĐTC-9378 ngày 30/12/2021 do Văn phòng C1 chứng nhận giữa N1 – Chi nhánh L với ông Nguyễn Thái N và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Thái N đã thanh toán cho N1 số tiền tổng cộng là 505.132.156 đồng (trong đó: tiền gốc đã trả: 0 đồng, tiền lãi đã trả: 505.132.156 đồng) và không tiếp tục thực hiện trả nợ theo cam kết trong các Hợp đồng cho vay và các Khế ước nhận nợ.

Nay NCB yêu cầu Tòa án giải quyết :

Buộc ông Nguyễn Thái N phải thanh toán ngay cho N1 toàn bộ số tiền là 6.807.901.510 đồng, trong đó: nợ gốc 4.600.000.000 đồng, nợ lãi 2.207.901.510 đồng.

Buộc ông Nguyễn Thái N tiếp tục thanh toán cho N1 số tiền lãi phát sinh cho đến trả hết nợ theo lãi suất được các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay, cùng các Khế ước nhận nợ đã ký.

Trường hợp ông Nguyễn Thái N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, đề nghị Tòa án tuyên NCB được yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho N1.

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Thái N vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q.

Bị đơn ông Nguyễn Thái N vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/12/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lâm Văn S và bà Ngô Thị C trình bày:

Ông Nguyễn Thái N cho ông Lâm Văn S thuê đất thời hạn 03 năm, mỗi năm 10.000.000 đồng, ông S đã giao đủ 30.000.000 đồng cho ông N. Hợp đồng thuê đất hai bên ký kết vào tháng 10 năm 2024. Vợ chồng ông S và bà C không liên quan đến việc vay vốn và thế chấp đất giữa ông N với N1, việc thuê đất

giữa ông N và vợ chồng ông S, bà C nếu có tranh chấp sẽ khởi kiện vụ án khác. Ông Lâm Văn S và bà Ngô Thị C xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án các cấp giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng:

Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng TMCP Q cung cấp là Hợp đồng cho vay số 942/21/HĐCV-9378 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/942/21/HĐCV-9378; Hợp đồng vay số 006/22/HĐCV-9378 và và Khế ước nhận nợ 01/KUNN/006/22/HĐCV-9378, có chữ ký của ông Nguyễn Thái N, xác định ông N có vay của Ngân hàng TMCP Q1 tiền 4.600.000.000₫ và lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng. Xét thấy, hợp đồng cho vay như trên được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q với ông N là hoàn toàn tự nguyện, hợp đồng đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định tại các Điều 117, Điều 119, Điều 463 Bộ luật Dân sự nên Hợp đồng có hiệu lực bắt buộc thực hiện.

Sau khi ký các hợp đồng vay, ông N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 505.132.156đ tiền lãi, sau đó không tiếp tục thực hiện các cam kết theo hợp, không thanh toán nợ gốc, nợ lãi đến hạn, cho thấy ông N vi phạm nghĩa vụ của bên vay, cụ thể là vi phạm các Điều 3, 7 của hai hợp đồng cho vay; khoản 8 Khế ước nhận nợ của Ngân hàng TMCP Q. Đến nay Ngân hàng cho rằng ông N còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 4.600.000.000đ, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh địa chỉ của ông N và đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông N nhưng ông N không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không có lời khai thể hiện ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Đây là được xem như tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần Q khởi kiện yêu cầu ông N trả tiền gốc 4.600.000.000₫ là có căn cứ chấp nhận.

Đối với số tiền lãi: ông N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng thương mại cổ phần Q nên có nghĩa vụ thanh toán lãi suất theo quy định tại các Điều 2, 3, 7, 10 của hợp đồng cho vay; khoản 7 Khế ước nhận nợ. Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần Q yêu cầu ông N trả lãi tạm tính đến ngày 23/5/2025 số tiền 2.207.901.510đ là phù hợp tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên có căn cứ chấp nhận.

Về tài sản đảm bảo: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 581, tờ bản đồ số 10, diện tích 13.852m² ngày 30/12/2021 được ký kết giữa ông Nguyễn Thái N với Ngân hàng Thương mại cổ phần Q là hoàn toàn tự nguyện, hợp đồng được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đầy đủ nên đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định tại các Điều 117, Điều 119, Điều 298, Điều 317 Bộ luật dân sự nên Hợp đồng thế chấp đã ký giữa hai bên có hiệu lực bắt buộc thực hiện. Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay, do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán với ngân hàng nên ngân hàng được yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa đất số 581, tờ bản đồ số 10, diện tích 13.852m² tọa lạc tại ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An để đảm bảo thi hành án nếu ông N không trả nợ đúng cam kết.

Đề nghị HĐXX: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q, buộc ông Nguyễn Thái N thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày xét xử là 6.807.901.510đ.

Về án phí: Ông Nguyễn Thái N phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền:

Ngân hàng N1 có đơn khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thái N thanh toán số tiền nợ gốc, nợ lãi theo hợp đồng cho vay đã ký kết, làm phát sinh vụ án tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án nhân dân thành phố Tân An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

[1.2] Về xét xử vắng mặt đương sự:

Đại diện nguyên đơn ông Mạc Phong V, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lâm Văn S và bà Ngô Thị C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Thái N vắng mặt, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục niêm yết, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông N không đến Tòa án. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với họ là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng NCB yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Nguyễn Thái N trả cho Ngân hàng số tiền đã vay 4.600.000.000 đồng. Xét thấy, để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, nguyên đơn Ngân hàng NCB cung cấp Hợp đồng cho vay số 006/22/HĐCV-

9378 ngày 12/01/2022, Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/006/22/HĐCV-9378 ngày 12/01/2022 và Hợp đồng cho vay số 942/21/HĐCV-9378 ngày 30/12/2021, Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/942/21/HĐCV-9378 ngày 30/12/2021 ông Nguyễn Thái N là người trực tiếp ký tên để nhận tiền vay của Ngân hàng N1 – Chi nhánh L. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định ông Nguyễn Thái N có ký hợp đồng tín dụng với nguyên đơn Ngân hàng N1 – Chi nhánh L để vay số tiền 4.600.000.000 đồng và hiện chưa thanh toán nợ gốc cho Ngân hàng. Do vậy, cần buộc ông Nguyễn Thái N phải thanh toán số tiền 4.600.000.000 đồng cho Ngân hàng là phù hợp theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự nên có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn. Xét thấy, việc bị đơn ông Nguyễn Thái N ký hợp đồng cho vay với nguyên đơn Ngân hàng N1 để vay số tiền 4.600.000.000 đồng, các bên có thỏa thuận lãi suất trong hạn là 11.5%/năm, lãi suất cho vay tiếp theo điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm, nhưng bị đơn ông Nguyễn Thái N không thanh toán tiền lãi đầy đủ cho Ngân hàng như đã thỏa thuận. Cụ thể, theo Hợp đồng cho vay số 006/22/HĐCV-9378 ngày 12/01/2022 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/006/22/HĐCV-9378 ngày 12/01/2022, số tiền lãi còn nợ trong hạn là 27.277.088 đồng, tiền lãi quá hạn là 735.638.400 đồng, tiền lãi chậm trả là 7.994.369 đồng, tổng cộng là 770.909.857 đồng; Hợp đồng cho vay số 942/21/HĐCV-9378 ngày 30/12/2021 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/942/21/HĐCV-9378 ngày 30/12/2021, số tiền lãi còn nợ trong hạn là 41.435.139 đồng, tiền lãi quá hạn là 1.383.300.000 đồng, tiền lãi chậm trả là 12.256.514 đồng, tổng cộng là 1.436.991.653 đồng. Do đó buộc bị đơn ông Nguyễn Thái N phải thanh toán tổng số tiền lãi 2.207.901.510 đồng cho nguyên đơn Ngân hàng NCB là phù hợp. Ông Nguyễn Thái N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

[2.3] Về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất:

Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 942/21/HĐTC-9378 ngày 30/12/2021, HĐXX thấy rằng:

Để bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay số 942/21/HĐCV-9378 ngày 30/12/2021 và Hợp đồng cho vay số 006/22/HĐCV-9378 ngày 12/01/2022 của ông Nguyễn Thái N đối với Ngân hàng N1. Ngày 30/12/2021, ông Nguyễn Thái N đã thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa số 581, tờ bản đồ số 10, địa chỉ: Ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 942/21/HĐTC-9378 ngày 30/12/2021, số công chứng 7607, quyển số 06/2021TP/CC-SCC/HĐGD ký tại Văn phòng C1 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q – Chi nhánh L với ông Nguyễn Thái N. Hợp đồng thế chấp được đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền

với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An ngày 30/12/2021, hợp đồng thế chấp này được công chứng và đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng N1 yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật Dân sự nên có căn cứ chấp nhận.

[2.4] Về cách thức trả nợ: Để đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng N1 cần buộc ông Nguyễn Thái N thanh toán số tiền 6.807.901.510 đồng cho Ngân hàng N1 ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[3] Án phí, chi phí tố tụng:

[3.1] Về án phí:

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Ông Nguyễn Thái N phải chịu án phí do phải trả nợ theo quy định với mức thu là 114.807.900₫.

Ngân hàng thương mại cổ phần Q được nhận lại số tiền 56.958.485 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000900 ngày 17/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.

[3.2] Về chi phí tố tụng:

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng NCB được chấp nhận toàn bộ nên áp dụng Điều 157 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 buộc ông Nguyễn Thái N phải chịu, ông Nguyễn Thái N có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền 5.000.000 đồng là phù hợp.

[4] Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 228, 266, 267, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng Điều 317, 318, 463, 466 Bộ luật Dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn ông Nguyễn Thái N.

1.1. Buộc ông Nguyễn Thái N phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q tổng số tiền là 6.807.901.510 đồng (sáu tỷ, tám trăm lẻ bảy triệu, chín trăm lẻ một nghìn, năm trăm mười đồng), trong đó: nợ gốc 4.600.000.000 đồng (bốn tỷ, sáu trăm triệu đồng), nợ lãi 2.207.901.510 đồng (hai tỷ, hai trăm lẻ bảy triệu, chín trăm lẻ một nghìn, năm trăm mười đồng), ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Tiếp tục thực hiện Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 942/21/HĐTC-9378 ngày 30/12/2021, số công chứng 7607, quyển số 06/2021TP/CC-SCC/HĐGD ký tại Văn phòng C1 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q – Chi nhánh L với ông Nguyễn Thái N, được đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 30/12/2021 để bảo đảm thi hành án.

Trong trường hợp ông Nguyễn Thái N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Nếu số tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Thái N phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ đến khi đủ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q.

2. Về án phí, chi phí tố tụng:

2.1. Về án phí:

Ông Nguyễn Thái N phải chịu án phí là 114.807.900đ (một trăm mười bốn triệu, tám trăm lẻ bảy nghìn, chín trăm đồng).

Ngân hàng thương mại cổ phần Q được nhận lại số tiền 56.958.485 đồng (năm mươi sáu triệu, chín trăm năm mươi tám nghìn, bốn trăm tám mươi lăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000900 ngày 17/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.

2.2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Thái N phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án:

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận

về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

4. Về thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND TP Tân An;
  • - CC.THADS TP Tân An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Kim Loan

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Kim Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN - TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 82/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN - TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Quốc Dân "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Nguyễn Thái Ngọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger