|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 82/2025/DS-PT Ngày: 13/3/2025 V/v: “ Tranh chấp Quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Tấn
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thu Hường
Bà Trần Thị Chọn
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngọc Trâm - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 297/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về “ Tranh chấp Quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 23/2025/QĐXX-PT ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Ông Danh T, sinh năm 1967; địa chỉ: ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
-
Người đại diện theo ủy quyền của ông Danh T: Bà Thị S, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt)
-
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Danh T: Luật sư Trần Minh H - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (có mặt)
-
- Bị đơn:
Ông Phạm Văn P, sinh năm 1946;
Ông Danh D (Út D1), sinh năm 1979;
Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (đều có mặt).
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Thị H1, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt)
Bà Lê Thị C, sinh năm 1950; địa chỉ: ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn vắng mặt)
-
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Danh T, đại diện bà Thị S và bị đơn ông Phạm Văn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Danh T do luật sư ông Phan Thanh T1 trình bày tại phiên tòa sơ thẩm:
Ông Danh T có phần đất được thừa kế từ mẹ ruột là bà Thị L với diện tích 10,394m², được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận QSD đất W241751, thuộc thửa số 486, tờ bản đồ 19 (phần đất này diện tích 6.500m²) và thửa số 82, tờ bản đồ 18 (phần đất này diện tích 3.894m²), tọa lạc tại ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Có vị trí tứ cận như sau:
- Phía bắc giáp ông Lê Phước S1;
- Phía nam giáp đất thổ cư;
- Phía tây giáp đất ông T đang canh tác;
- Phía đông giáp ông Danh T2.
Hiện nay gia đình ông T chỉ canh tác 5.000m², số đất còn lại do ông P chiếm 3.300m², ông D1 chiếm 2.094m². Nay không đồng ý việc ông P, ông D1 chiếm đất nên yêu cầu buộc ông P trả cho ông T phần đất đã chiếm có diện tích là 3.300m² (đo đạc thực tế là 3.740,9m²) và buộc ông D1 trả cho ông T phần đất đã chiếm có diện tích là 2.094m² (đo đạc thực tế là 2.642,8m²).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Danh T do bà Thị S trình bày:
Bà thống nhất lời trình bày của ông T1 là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông T nêu trên. Về nguồn gốc đất là của cha mẹ là bà L, ông K (cha mẹ của bà và ông T) chiếm của điền chủ mà có, sử dụng một thời gian sau đó cho con là ông Danh T nên ông T được cấp giấy chứng nhận QSD đất, xác định bà L không có chuyển nhượng đất cho ông M, còn việc ông M lấy đất của bà L chuyển nhượng đất cho ông P gia đình bà không hay biết. Nay bà yêu cầu buộc ông P trả đất cho ông T phần đất đã chiếm có diện tích là 3.300m² (đo đạc thực tế là 3.740,9m²) và buộc ông D1 trả cho ông T phần đất đã chiếm có diện tích là 2.094m² (đo đạc thực tế là 2.642,8m²).
Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/4/2022 và tại phiên toà bị đơn ông Danh D trình bày:
Nguồn gốc đất là của ông nội ông là ông Danh L1 sử dụng đất từ năm 1975 đến khi ông D2 Lúc chết thì cha ruột là ông Danh M sử dụng đến năm 2014 ông M chết thì ông tiếp tục sử dụng phần đất từ năm 2014 cho đến nay. Ông xác định phần đất ông sử dụng đã được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Danh M với diện tích 4.800m², đất hiện do vợ chồng ông đang trực tiếp quản lý, sử dụng.
Phần đất đang tranh chấp giữa ông T yêu cầu đối với ông P là của ông M nhận chuyển nhượng đất của bà L vào khoảng năm 1993 là 03 công đất, việc nhận chuyển nhượng đất có giấy tờ gì nhưng lâu quá đã thất lạc không còn, ông M sử dụng đất đến khoảng năm 1995 thì chuyển nhượng 03 công đất trên lại ông P với giá 09 đến 10 chỉ vàng 24k. Ông P sử dụng đất đến năm 2020 cho ông thuê với giá thuê một năm là 10.000.000 đồng, thoả thuận trả tiền thuê hàng năm, năm 2024 ông đã thanh toán xong tiền thuê đất cho ông P. Nay ông xác định không có mượn đất hay lấn chiếm đất của ông T, không đồng ý giao trả đất.
Bản tự khai ngày 4/4/2022 và tại phiên toà bị đơn ông Phạm Văn P trình bày:
Trước đây vào năm 1996 ông có nhận chuyển nhượng 03 công đất của ông M với giá 01 công đất là 5,5 chỉ vàng 24k, tổng cộng là 16,5 chỉ vàng 24k, việc chuyển nhượng đất có làm giấy tay với ông M. Sau khi sang đất xong vợ chồng ông canh tác sử dụng trồng mía, trồng rau, xác định đất trên ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trước đây sau khi sang đất xong đến khoảng năm 1997, năm 1998 do có đoàn cấp giấy xuống địa phương nên ông và ông M có đi kê khai quyền sử dụng đất có đem 02 giấy tay mua bán theo gửi đoàn, ông cứ nghĩ kê khai như vậy là xong nên bỏ giấy tay thất lạc. Đến năm 2020 địa chính có đo đạc nhưng đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất trên ông cho vợ chồng ông D thuê lại vào tháng 6/2020, nay ông không tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng đất, không tranh chấp về hợp đồng thuê đất với ông D, không yêu cầu giải quyết. Đối với cây nước xây đã lâu nên không còn giá trị nhiều nếu giải quyết đất trên là của ông Danh T thì ông tự tháo dỡ không yêu cầu bồi hoàn. Nay ông không thống nhất yêu cầu đòi đất của ông Danh T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thị H1 trình bày: Thống nhất lời trình bày của ông D, xác định vợ chồng bà không có lấn chiếm đất của ông T, bà không đồng ý theo yêu cầu của ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Danh T đối với bị đơn ông Phạm Văn P về việc tranh chấp QSD đất diện tích là 3.300m² (đo đạc thực tế là 3.740,9m²), đất toạ lạc tại ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
Buộc vợ chồng ông Phạm Văn P, bà Lê Thị C tháo dỡ cây nước bàn giao trả đất cho ông T; đồng thời buộc vợ chồng ông Danh D và bà Thị H1 (là người thuê lại đất của ông P) phải có trách nhiệm thu hoạch vật nuôi (tôm, cua) bàn giao trả đất đo đạc thực tế là 3.740,9m² cho ông D2 Tụi trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
Vị trí tứ cận: Cạnh 1, 2 là 43,46m giáp đất ông Lê Văn Ú, cạnh 2,3 là 88,40m giáp đất ông Danh T, cạnh 3, 4 là 44,17m giáp đất tranh chấp diện tích 2.642,8m ông D đang quản lý, cạnh 4, 1 là 82,85m giáp đất ông Lê Văn Ú. (Theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 122-2022 ngày 27/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V).
-
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Danh T đối với bị đơn ông Danh D về việc tranh chấp QSD đất diện tích là 2.094m² (đo đạc thực tế là 2.642,8m²); đất toạ lạc tại ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Vị trí tứ cận: Cạnh 4, 3 là 44,17m giáp đất tranh chấp có diện tích 3.740,9m², cạnh 3, 5 là 58,30m giáp đất ông Danh T, cạnh 5, 6 là 44,52m giáp đất ông Danh T và ông Danh D, cạnh 6, 4 là 60,94m giáp đất ông Lê Văn Ú. (Theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 122-2022 ngày 27/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 16/7/2024 nguyên đơn ông Danh T, đại diện bà Thị S có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung:
Yêu cầu Tòa phúc thẩm buộc ông Danh D trả cho ông D2 Tụi phần dất đã chiếm có diện tích 2.094m².
Ngày 12/7/2024 bị đơn ông Phạm Văn P có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung:
Yêu cầu Tòa phúc thẩm xem xét bác toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Danh T có diện tích 3.740m². Lý do ông nhận chuyển nhượng của ông Danh M từ năm 1996 và canh tác liên tục từ đó đến nay.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
-
- Đại diện nguyên đơn bà Thị S trình bày: Giữ nguyên đơn khởi kiện và nội dung kháng cáo.
-
- Luật sư Trần Minh H ý kiến: Nội dung khởi kiện, kháng cáo của nguyên đơn có căn cứ. Nguồn gốc đất của gia đình nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện nay các bị đơn bao chiếm sử dụng không đúng pháp luật, mong hội đồng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, sửa án sơ thẩm.
-
- Bị đơn ông Phạm Văn P trình bày: Giử nguyên nội dung kháng cáo.
-
- Luật sư Lại Hùng A ý kiến: Đề nghị hội đồng chấp nhận nội dung kháng cáo của ông P bởi các lý do sau:
Căn cứ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Danh T là không có căn cứ pháp luật. do cấp tự kê khai, không kiểm tra đo đạt thực tế. nên việc nguyên đơn căn cứ việc có giấy chứng nhận để đòi đất là không đúng pháp luật.
Ông P sử dụng đất từ năm 1996 đến nay gia đình bà L, ông Danh T không tranh chấp. nên việc sử dụng đất của ông P là công khai ngay tình hợp pháp.
Đề nghị sửa án sơ thẩm bác yêu cầu của ông T đối với ông P.
-
- Bị đơn ông Danh D: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Danh T, bà Thị S, đề nghị giử nguyên án sơ thẩm đối với phần tranh chấp đất của ông.
-
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Không ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
-
- Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và những người tham gia tố tụng trong vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án tại phiên tòa phúc thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
-
- Về nội dung vụ án và đề nghị hướng giải quyết:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Danh T, người đại diện bà Thị S và bị đơn ông Phạm Văn P.
Đề nghị áp dụng khoản 01 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng khác.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục kháng cáo của đương sự thực hiện đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, có một số đương sự vắng mặt, tuy nhiên họ đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt hoặc đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung: Nguyên đơn ông T tranh chấp QSD đất đối với bị đơn ông Danh D diện tích 2.094m² (đo đạc thực tế là 2.642,8m²) và tranh chấp QSD đất đối với ông Phạm Văn P diện tích đất 3.300m² (đo đạc thực tế là 3.740,9m²). Các phần đất toạ lạc tại ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
[3]. Về nội dung kháng cáo:
3.1 Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Danh T, người đại diện của nguyên đơn bà Thị S yêu cầu Tòa phúc thẩm buộc ông Danh D trả cho ông D2 Tụi phần dất đã chiếm có diện tích 2.094m². Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì phần đất tranh chấp là đất hoang hoá, ông M là cha ruột ông D không có chỗ ở nên ông M vào khai phá một phần đất khoảng 2,5 công sử dụng cất nhà để ở sử dụng cho đến nay. Quá trình sử dụng đất ông M có đi kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông M đứng tên. Ông M sử dụng đất từ năm 1980 đến khi ông M chết thì con là ông D tiếp tục sử dụng ổn định phần đất này không ai tranh chấp trong một thời gian dài và ông M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. diện tích 2.642,8m2, thuộc thửa 81, tờ bản đồ 18, loại đất trồng lúa, cấp theo trình tự thủ tục kê khai đăng ký cấp giấy, ông T không có quá trình sử dụng đất, không chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với phần đất này. Nên Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của ông Danh T là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
3.2 Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn P:
Yêu cầu Tòa phúc thẩm xem xét bác toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn ông D2 Tụi tranh chấp đất có diện tích 3.740m². lý do ông nhận chuyển nhượng của ông Danh M từ năm 1996 và canh tác liên tục từ đó đến nay.
3.2.1 Xét nguồn gốc đất tranh chấp:
Nguồn gốc đất trước đây là của ông K, bà L cho con ruột là ông Danh C1 (là anh em cùng cha khác mẹ với bà S, ông T) sử dụng một thời gian đến năm 1995 ông C1 bỏ đi, năm 1996 ông P vào sử dụng phần đất này đến nay. Quá trình sử dụng đất ông Phạm Văn P không kê khai đăng ký theo quy định tại Điều 33 Luật đất đai năm 1993.
Năm 2004 ông D2 Tụi kê khai đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp giấy phần đất có diện tích 3.894m², tại thửa số 82, tờ bản đồ 18. Việc UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D2 Tụi không thuộc trường hợp thực hiện một chính sách đất đai nào, ông Danh T không phải là người trực tiếp sử dụng đất. Hồ sơ kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D2 Tụi nay đã thất lạc nên không đủ cơ sở xác định việc cấp giấy chứng nhận cho ông D2 Tụi thuộc trường hợp nào? Như vậy về thủ tục hành chính là chưa đảm bảo quy định của pháp luật.
3.2.2 Về quá trình sử dụng đất: ông Danh T không có quá trình sử dụng, chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng để làm căn cứ khởi kiện. ông Phạm Văn P là người trực tiếp quản lý sử dụng phần đất này từ năm 1996 đến nay. Nội dung của vụ án này tương tự với án lệ số 33/2020/AL “về trường hợp cá nhân được Nhà nước giao đất nhưng không sử dụng mà để người khác quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài” được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thông qua ngày 5/2/2020 và được công bố theo quyết định số 50/QĐ-CA ngày 25/2/2020 của Chánh án toà án nhân dân tối cao. Tinh thần của án lệ thì chủ củ không có quyền đòi lại đất. Theo quy định tại Điều 105 Luật đất đai chủ củ không canh tác liên tục 2 năm thì Nhà nước thu hồi đất. Nhà nước chỉ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người trực tiếp canh tác. Do vậy Toà sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông D2 Tụi là chưa phù hợp với quy định pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông D2 tụi, bà Thị S. Chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Danh P1. Chấp nhận một phần đề nghị của Viện kiểm sát đối với phần đất tranh chấp ông Danh D. Không chấp nhận phần đề nghị đối với phần đất ông Phạm Văn P sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận.
[4] Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Số tiền 2.041.000 đồng, nguyên đơn đã nộp xong, nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí trên.
Chi phí định giá tài sản: Số tiền 3.980.000 đồng, nguyên đơn đã nộp xong, nguyên đơn tự nguyên chịu chi phí trên.
[5].Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông P là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử xét miễn án phí cho ông P theo quy định.
Nguyên đơn ông T phải chịu án phí đối với một phần yêu cầu không được Toà án chấp nhận là 300.000 đồng, nhưng do ông T là người thuộc hộ nghèo có giấy hộ nghèo, có đơn miễn án phí nên Hội đồng xét xử xét miễn án phí cho ông T theo quy định.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông T, bà S, ông P không phải chịu án phí, do là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Áp dụng Điều 100, Điều 203 của Luật đất đai 2013.
Án lệ số 33/2020/AL ngày 05/02/2020.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Danh T, bà Thị S.
- Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn P.
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2024/DS-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận.
Phần tuyên xử:
-
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Danh T đối với bị đơn ông Phạm Văn P về việc tranh chấp QSD đất diện tích là 3.300m² (đo đạc thực tế là 3.740,9m²), đất toạ lạc tại ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Vị trí tứ cận: Cạnh 1, 2 là 43,46m giáp đất ông Lê Văn Ú, cạnh 2,3 là 88,40m giáp đất ông Danh T, cạnh 3, 4 là 44,17m giáp đất tranh chấp diện tích 2.642,8m ông D đang quản lý, cạnh 4, 1 là 82,85m giáp đất ông Lê Văn Ú. (Theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 122-2022 ngày 27/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V).
-
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Danh T đối với bị đơn ông Danh D về việc tranh chấp QSD đất diện tích là 2.094m² (đo đạc thực tế là 2.642,8m²); đất toạ lạc tại ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Vị trí tứ cận: Cạnh 4, 3 là 44,17m giáp đất tranh chấp có diện tích 3.740,9m², cạnh 3, 5 là 58,30m giáp đất ông Danh T, cạnh 5, 6 là 44,52m giáp đất ông Danh T và ông Danh D, cạnh 6, 4 là 60,94m giáp đất ông Lê Văn Ú. (Theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 122-2022 ngày 27/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V).
-
Chi phí tố tụng khác:
3.1.Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Là 2.041.000 đồng, ông D2 Tụi tự nguyện chịu (đã nộp xong).
3.2. Chi phí định giá tài sản: Là 3.980.000 đồng, ông D2 Tụi tự nguyện chịu (đã nộp xong).
-
Án phí dân sự:
4.1. Án phí sơ thẩm: Ông Danh T là người thuộc hộ nghèo và ông Phạm Văn P là người cao tuổi nên được xét miễn án phí theo quy định.
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông T, bà S, ông P được miễn án phí do là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.
-
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Tấn |
9
Bản án số 82/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 82/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông T yêu cầu buộc ông p trả cho ông T phần đất đà chiếm có diện tích là 3.300m2 (đo đạc thực tế là 3.740,9m2) và buộc ông DI trả cho ông T phần đất đã chiếm có diện tích là 2.0941112 (đo đạc thực tế là 2.642,81112).
