TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2025/DS-PT Ngày 09 tháng 4 năm 2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Huỳnh Thanh Tâm;
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Ngọc Thúy và ông Đào Chí Keo;
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Trường San, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 394/2024/TLPT- DS ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 367/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 38/2025/QĐXXPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1935; nơi cư trú: Tổ B, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Huỳnh Hồng D, Luật sư Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh A, có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Tiến V, Luật sư Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: số B, T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị C, sinh năm 1947; nơi cư trú: Tổ B, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt;
- Đại diện hợp pháp của bà Lê Thị C: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1935; nơi cư trú: Tổ B, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 15/3/2019), có mặt.
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1980, vắng mặt;
- Anh Trần Văn A, sinh năm 2000, vắng mặt;
- Đại diện hợp pháp của bà H và anh A: Ông Trần Văn T, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 22/11/2021), có mặt.
- Anh Trần Văn K, sinh ngày 23/11/2006; địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1935; nơi cư trú: Tổ B, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Trần Văn Đ trình bày:
Năm 1975 ông dỡ nhà để đất trống, khoảng năm 1993, 1994 ông Trần Văn H1 (cha ông T) lắp đường nước trên đất của ông nên ông khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã M. Theo Thông báo số 28/TB-UB, ngày 03/3/1994 của Ủy ban nhân dân xã M (sau đây gọi là Thông báo số 28) thì phần đất của ông (Trần Văn Đ) thửa 12, diện tích 1.123m²; phần đất ông Trần Văn H1 thửa 15, diện tích 1.479m². Do không sử dụng nên ông chuyển nhượng một phần đất cho ông Phan Hòa B và bà Trần Thị Thúy V1 diện tích 305,80m². Ông B, bà V1 được Ủy ban nhân dân thành phố L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/11/2003. Sau khi chuyển nhượng cho ông B, bà V1 thì phần đất ông sử dụng thực tế có chiều ngang mặt tiền 11,5m, chiều ngang mặt sau 1m, chiều dài 51m.
Phần diện tích đất ông T sử dụng của ông có chiều ngang 3,5m, ngang sau 15m; chiều dài 51m. Cơ sở để ông xác định ông T sử dụng phần đất của ông là ông lấy diện tích đất mua của ông Lương Văn N 3.000m², trừ phần đất chuyển nhượng cho ông B, bà V1; trừ phần đất ông sử dụng, phần đất bị thiếu là do ông T chiếm dụng. Phần đất ông tranh chấp với ông T và phần đất ông T đang sử dụng đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông Đ yêu cầu ông Trần Văn T và bà Lê Thị H cùng 02 con của ông T, bà H là Trần Văn A, Trần Văn K di dời nhà, vật kiến trúc trên đất, trả lại ông diện tích 443,6m² đất thể hiện tại các điểm 18, 60, 61,37 theo bản Trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đăng ký Đất đai chi nhánh L2 lập ngày 31/8/2023 tọa lạc tại ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Lê Thị H, Trần Văn A) ông Trần Văn T trình bày:
Đất gia đình ông đang sử dụng có nguồn gốc từ ông nội Trần Văn T1 cho cha ông là Trần Văn H1, sau đó cha ông cho lại ông sử dụng đến nay. Diện tích đất ông đang sử dụng khoảng 2.150,9m², đây là diện tích ông được cha cho, không lấn chiếm đất như ông Đ trình bày. Quá trình sử dụng đất, ông nội (ông T1) có trồng một số cây: vú sữa, sao, xoài, gáo, dừa, tre, mít, bạch đàn...sau đó ông nội cho cha ông quản lý sử dụng và cha ông tiếp tục trồng một số cây và cho lại ông sử dụng đến nay. Ông T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn K: yêu cầu xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.
* Tại Bản án số 367/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đ yêu cầu ông Trần Văn T và bà Lê Thị H cùng anh Trần Văn A, Trần Văn K di dời nhà, vật kiến trúc trả lại cho ông diện tích đất 443,6m².
Về chi phí tố tụng:
Ông Trần Văn Đ phải chịu 11.318.000 đồng (Mười một triệu ba trăm mười tám nghìn) đồng, đã thực hiện xong.
Ông Trần Văn T tự nguyện chịu 2.620.000 đồng (Hai triệu sáu trăm hai mươi nghìn) đồng, đã thực hiện xong.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/10/2024, nguyên đơn ông Trần Văn Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Trần Văn Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo.
- Bị đơn ông Trần Văn T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của ông Đ.
- Quan điểm của Luật sư Huỳnh Hồng D người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ:
Căn cứ vào Tờ bán đất ruộng năm 1971 thể hiện ông Đ, bà C sang nhượng của ông N diện tích đất 3 ha và Thông báo số 28/TB.UB ngày 03/3/1994 của Ủy ban nhân dân xã M thì diện tích đất của ông Trần Văn H1 (cha ông T) là 1.479 m² (thửa 15), diện tích đất của ông Trần Văn Đ là 1.123 m² (thửa 12), phần đất ông Đ chuyển nhượng cho ông B, bà V1 là 305,8 m², còn lại là 817,2 m². Theo kết quả đo đạc năm 2023 thì ông Đ xác định đất của ông có diện tích 781,4 m², trong đó phần ông T lấn chiếm là 443,6m².
Ngoài ra, theo đo đạc, diện tích đất ông T đang sử dụng là 2.150,9 m², nhiều hơn so với diện tích theo Thông báo số 28/TB.UB (1.479m²) nên có căn cứ xác định ông T sử dụng đất lấn chiếm của ông Đ. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
- Quan điểm của Luật sư Trần Tiến V, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đ về việc buộc ông T cùng vợ và các con trả cho ông Đ phần đất tranh chấp diện tích 443,6m² do nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh đất tranh chấp là của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 367/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Đ kháng cáo trong thời hạn luật định, được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vắng mặt Trần Văn K.
[2] Về nội dung:
Nguyên đơn ông Trần Văn Đ cho rằng, nguồn gốc đất tranh chấp do ông Đ và bà C mua của ông Lương Văn N và bà Nguyễn Thị T2 theo Tờ bán đứt (đất ruộng) ngày 07/5/1971, diện tích là 3h00 thuộc bản đồ 8-F 20ie. Năm 2006, cha của ông T là ông Trần Văn H1 đã lấn chiếm đất, Tư pháp xã M tổ chức hòa giải, ông H1 đồng ý cho địa chính đo đạc lại diện tích đất của ông H1, nhưng sau đó ông H1 không thực hiện. Sau khi ông H1 mất thì ông T tiếp tục sử dụng và có cất nhà lấn qua đất của ông Đ.
Theo kết quả đo đạc tại Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L2 lập ngày 31/8/2023 thì diện tích đất tranh chấp (theo hướng dẫn chỉ ranh của ông Đ và ông T) là 443,6 m² qua các điểm 18, 60, 61, 37; Hiện trạng đất tranh chấp theo kết quả ghi nhận hiện trạng tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/02/2019 (bút lục 82) và biên bản ngày 11/3/2022 (bút lục 190) của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thì trên đất tranh chấp có phần diện tích nhà, vật kiến trúc của ông T xây dựng gồm: một nhà ở sàn ván, vách tole, ván, khung gỗ, mái tole; nhà số 02 tiếp giáp phía sau nhà số A nền xi măng, đal, vách tole, khung gỗ, trụ đá, mái tole; chuồng bò nền xi măng khung trụ đá, mái tole. Trên đất còn có một số cây trồng lâu năm như: sao, gáo, vú sữa, dừa, mít, xoài, tre, tràm.
Tại Bản trích đo hiện trạng ngày 02/4/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh L2 thì diện tích đất tranh chấp theo chỉ dẫn của các bên là 445,7 m² (qua các điểm: 37, 38, 58, 18).
Ông T khai đất có nguồn gốc của ông nội là Trần Văn T1 cho cha ông là Trần Văn H1. Sau khi ông H1 mất để lại cho ông T sử dụng. Trên đất có nhà ở và vật kiến trúc, chuồng bò. Cây trồng trên đất tranh chấp là của ông nội Trần Văn T1 trồng để lại, ông H1 có trồng thêm. Sau khi ông H1 mất để lại cho ông quản lý sử dụng cho đến nay.
Xét lời khai của ông Đ về nguồn gốc đất tranh chấp do ông Đ và bà C sang nhượng của ông N và bà T2 vào năm 1971, diện tích 3 ha. Ông Đ khai (tại biên bản đối chất ngày 29/12/2021 tại bút lục 147) trong 3 ha đất mua của ông N, ông có chuyển nhượng cho ông Phan Hòa B, bà Trần Thị Thúy V1 diện tích 305,8 m², còn lại trừ đi phần ông Đ đang sử dụng (ngang trước 11,5 m, ngang sau 01 m, dài 51 m) nên ông xác định phần ông T sử dụng lấn chiếm của ông là ngang 3,5, ngang sau 15 m, dài 51 m.
Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 04/9/2024 ông Đ xác định yêu cầu khởi kiện buộc ông T trả lại diện tích đất 443,6 m² theo kết quả đo đạc ngày 31/8/2023, đồng thời xác định diện tích đất tranh chấp không liên quan đến diện tích đất ông Đ mua của ông N theo Tờ bán đứt đất ruộng năm 1971. Điều nay phù hợp với nội dung Quyết định số 27/QĐ-UB, ngày 15/4/1994 của Ủy ban nhân dân thành phố L về việc giải quyết khiếu nại của ông Trần Văn Đ tranh chấp đường nước với ông Trần Văn H1, xác định phần đất diện tích 30 công đất ruộng của ông Trần Văn Đ mua của ông N nằm phía sau hậu phần đất thổ cư được cha là ông T1 chia. Như vậy, việc ông Đ khai nguồn gốc đất tranh chấp với ông T là do ông và bà C mua của ông N năm 1971 là không đúng.
Lời khai của ông Đ cho rằng diện tích đất của ông H1 sử dụng theo Thông báo số 28/TB.UB ngày 03/3/1994 của Ủy ban nhân dân xã M là thửa 15, diện tích 1.479m², phần đất của ông Đ thuộc thửa 12, diện tích 1.123m² nhưng theo kết quả đo đạc năm 2023 thì đất ông T sử dụng do ông H1 để lại là hơn 2.000 m²; đất của ông Đ đang sử dụng là 781,4m² nên phần còn thiếu là do ông T lấn chiếm.
Trong Thông báo số 28/TB.UB thể hiện thửa 14 là mương nước, diện tích 256m². Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã M ngày 18/9/2024 thì không xác định được phần đất tranh chấp theo các điểm 18, 60, 61, 37 có diện tích 443,6m² (theo bản Trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đăng ký Đất đai chi nhánh L2 lập ngày 31/8/2023) và các điểm 37, 38, 58, 18 có diện tích 445,7m² (theo bản Trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đăng ký Đất đai chi nhánh L2 lập ngày 02/4/2024) có thuộc phần diện tích đất nào của các thửa đất số 15, 12, 14 theo Thông báo số 28 của Ủy ban nhân dân xã M hay không.
Theo bản Trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đ1 chi nhánh L2 lập ngày 31/8/2023 thể hiện các điểm 65-62-63-64 là vị trí bụi tre nằm trong diện tích đất tranh chấp 443,6m². Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ khai bụi tre là do ông Đ trồng. Ông T khai tre do ông T1 trồng. Qua xem xét nội dung Thông báo số 28/TB.UB ngày 03/3/1994 của Ủy ban nhân dân xã M về việc giải quyết tranh chấp đường nước giữa ông Đ và ông H1 (S) thể hiện nội dung trình bày của ông Đ trong đơn xin cứu xét ngày 15 tháng 12 năm 1990 “về tre ông T3 có trồng trên đất của ông T1”. Các đương sự xác định ông T3 là ông H1 (cha ông T). Như vậy, việc ông Đ khai trên đất tranh chấp hiện có bụi tre do ông Đ trồng là không có căn cứ. Thông báo số 28 cũng xác định “đường nước ông Đ tranh chấp là phần sử dụng của ông H1, do cha cho".
Ngoài ra, xét về quá trình sử dụng đất thì ông H1 (cha ông T) và ông T là người có quá trình sử dụng đất, có xây dựng nhà, vật kiến trúc và trồng cây, phù hợp với kết quả xác minh ngày 23/5/2024 của Tòa án cấp sơ thẩm (tại Bút lục số 283). Ông Đ không cung cấp được chứng cứ chứng minh diện tích đất tranh chấp là của ông nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ là có căn cứ.
Ông Đ kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào khác nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đ và quan điểm của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Đ.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của ông Đ không được chấp nhận nên ông Đ phải chịu chi phí tố tụng đã nộp tạm ứng gồm: chi phí đo đạc 718.000 đồng; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 1.000.000 đồng; chi phí định giá 9.600.000 đồng. Tổng cộng là 11.318.000 đồng (đã thực hiện xong).
Ông T tự nguyện chịu các chi phí tố tụng do ông T đã nộp tạm ứng gồm: chi phí đo đạc 1.320.000 đồng; chi phí thẩm định tại chỗ 900.000 đồng; chi phí định giá 400.000 đồng, tổng cộng là 2.620.000 đồng (đã thực hiện xong).
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí, Tòa án cấp sơ thẩm miễn án phí cho ông Đ là có căn cứ. Hoàn trả cho ông Đ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đ có đơn xin miễn án phí do là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn Đ;
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 367/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đ về việc buộc ông Trần Văn T và bà Lê Thị H cùng anh Trần Văn A, Trần Văn K di dời nhà, vật kiến trúc trả lại cho ông Đ diện tích đất 443,6m² (theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh L2 lập ngày 31/8/2023).
- Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn Đ phải chịu 11.318.000 đồng (đã thực hiện xong).
Ông Trần Văn T tự nguyện chịu 2.620.000 đồng (đã thực hiện xong)
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn Đ được miễn nộp. Hoàn trả cho ông Trần Văn Đ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005129 ngày 21/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Đ được miễn nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Tâm |
Bản án số 82/2025/DS-PT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 82/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đất chưa có giấy chứng nhận QSDĐ
