Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

----------

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày: 16/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Tráng

Bà Lê Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn N, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1991; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Trần Đình H ( đã chết ) và con bà Nguyễn Thị T ; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023, hiện đang bị giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Đỗ Xuân T1, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định . Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Minh T2, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định . Có đơn xin xét xử mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 26/12/2023, Trần Văn N (sinh năm 1991, HKTT: thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa,) đi bộ một mình đến khu vực quận H, T, Hà Nội với mục đích xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khi N đi qua số nhà H đường V, phường M, quận H, thấy trước cửa nhà có dựng nhiều xe máy, không có người trông giữ nên Năm tiến lại gần quan sát, thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, mang BKS: 18D1 - 384.40 của anh Đỗ Xuân T1 (sinh năm 1999, HKTT: thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định) không có khóa càng, không khóa cổ, Năm dắt chiếc xe máy trên đi theo hướng làng Việt kiều châu âu ra đường N, ra khu vực quận T để tìm nơi phá khóa xe máy. Do không tìm được thợ sửa khóa. Đến sáng ngày 27/12/2023, nhận thức được việc trộm cắp tài sản của bản thân là vi phạm pháp luật nên N đã đến C phường M, H, Hà Nội đầu thú khai nhận toàn bộ nội dung sự việc phạm tội và giao nộp chiếc xe máy trên.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 18D1 - 384.40, số khung: RLHHC1251FY296214, số máy HC12E1296354, đã qua sử dụng.

Ngày 27/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Yêu cầu định giá số 269 đối với tài sản bị trộm cắp. Tại bản kết luận định giá tài sản số 308/KL-HĐĐGTS ngày 27/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận H, kết luận: “Giá trị tài sản 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, mang BKS: 18D1 - 384.40, số khung1251FY296214, số máy HC12E1296354, đã qua sử dụng là 10.662.000 đồng”.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 18D1 - 384.40 chủ sở hữu hợp pháp là ông Đỗ Minh T2, (sinh năm 1974, HKTT: thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định là bố đẻ anh Đỗ Xuân T1), ông T2 trình bày: chiếc xe trên là do ông mua mới vào năm 2016, đến năm 2020, ông T2 đã giao cho anh Đỗ Xuân T1 quản lý sử dụng. Ông T2 đề nghị cơ quan điều tra trao trả xe cho anh T1 tiếp tục quản lý. Ngày 29/12/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội trả lại chiếc xe trên cho anh Đỗ Xuân T1.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đỗ Xuân T1 đã nhận lại tài sản bị mất, không có yêu cầu bồi thường đề nghị gì khác.

Trước cơ quan điều tra, Trần Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS-HĐ ngày 29/2/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Trần Văn N về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 .

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Trần Văn N như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn N từ 08 đến 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự :

Anh Đỗ Xuân T1 đã nhận lại tài sản bị mất, không có yêu cầu bồi thường đề nghị gì khác.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trả lại cho bị cáo Trần Văn N số tiền 2.000.000 đồng do chị Trần Thị N1 chị gái bị cáo nộp thay số tiền khắc phục hậu quả cho bị cáo.

Bị cáo Trần Văn N không có tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận hà Đông.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân quận H, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn N không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Văn N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ trong vụ án và kết luận giám định. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 00 ngày 26/12/2023, tại trước cửa số nhà H đường V, phường M, quận H, thành phố Hà Nội, lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, Trần Văn N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Đỗ Xuân T1 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 18D1 - 384.40, trị giá 10.662.000 đồng. Hành vi của bị cáo Trần Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Văn N có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Trần Văn N theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lén lút cố chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu đến để nhằm mục đích chi tiêu cá nhân của mình. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5].Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Văn N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Do đó bị cáo đủ điều kiện hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 .

[6]. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo Trần Văn N là người đã trưởng thành, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật . Vì vậy cần phải được xử lý nghiêm khắc trước pháp luật cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo cũng như đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập do vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 .

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có đề nghị bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Trả lại cho bị cáo Trần Văn N số tiền 2.000.000 đồng do chị Trần Thị N1 chị gái bị cáo nộp thay số tiền khắc phục hậu quả cho bị cáo.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội : Trộm cắp tài sản
  2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173 ; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Xử phạt: Trần Văn N 06 ( sáu ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023.

    Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trả lại cho bị cáo Trần Văn N số tiền 2.000.000 đồng do chị Trần Thị N1 chị gái bị cáo nộp thay số tiền khắc phục hậu quả cho bị cáo theo biên lai thu tiền số: 0014877 ngày 15/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.
  4. Về quyền kháng cáo:
  5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát quận Hà Đông;
  • - Thi hành án quận Hà Đông;
  • - Trại tạm giam số 2;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Văn N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger