Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/KDTM-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Như Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đỗ Thị A.
  2. Ông Phạm Minh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thế Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2023/TLST-KDTM ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 567/2024/QĐXXST-KDTM ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 309/2024/QĐST-KDTM ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

· Nguyên đơn: Ngân hàng N.

Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Phạm Toàn V.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn:

Ông Phạm Văn C, sinh năm 1994 (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

Địa chỉ chi nhánh: Số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Quyết định về việc uỷ quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 và Giấy uỷ quyền số 1387/GUQ-NHNo.LTK-KTKSNB ngày 28/8/2023).

· Bị đơn: Công ty cổ phần Đ1.

Địa chỉ trụ sở chính: Số F đường N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của công ty:

Ông Bùi Đình Uyên T, sinh năm 1983 (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số B đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện đang bị giam tại Trại giam A - Cục C3 - Bộ C4.

Người đại diện công ty tham gia tố tụng theo chỉ định của Tòa án:

  1. Ông Từ Văn L (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Số A (T) Lô B, chung cư B đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Nguyễn Thanh S (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Số B đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Bùi Đình Uyên T, sinh năm 1983 (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Số B đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Hiên đang bị giam tại Trại giam A - Cục C3 - Bộ C4.

  3. Ông Đàng Văn G (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: T đất số 140, tờ bản đồ số 7, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

  5. Bà Nguyễn Thị G1 (vắng mặt).
  6. Địa chỉ: T đất số 140, tờ bản đồ số 7, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

  7. Ông Đoàn Văn H (vắng mặt).
  8. Địa chỉ: T đất số 140, tờ bản đồ số 7, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

  9. Bà Huỳnh Thị B (vắng mặt).
  10. Địa chỉ: T đất số 140, tờ bản đồ số 7, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

  11. Bà Đoàn Kim C1 (vắng mặt).
  12. Địa chỉ: T đất số 140, tờ bản đồ số 7, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

  13. Trẻ Đoàn Ngọc Kiều M, sinh năm 2017.
  14. Người đại diện theo pháp luật của trẻ Đoàn Ngọc Kiều M:

    Bà Đoàn Kim C1 (vắng mặt).

    Địa chỉ: T đất số 140, tờ bản đồ số 7, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

  15. Ông Đoàn Văn T1 (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
  16. Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

  17. Ông Đoàn Văn T2 (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
  18. Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

  19. Ông Đoàn Văn C2 (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
  20. Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

  1. Ông Cao Văn R (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

  3. Ông Nguyễn Văn Đ (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 28/8/2023; các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn Ngân hàng N trình bày như sau:

Ngày 25/12/2019, A1 - Chi nhánh L1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và Công ty cổ phần Đ1 (sau đây gọi tắt là công ty Đ1) thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201901306 với hạn mức tín dụng được cấp là 20.000.000.000 đồng; mục đích sử dụng tiền vay là bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh của công ty; thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng là 12 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng.

Sau đó, Ngân hàng và công ty Đ1 lần lượt ký kết 04 Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201901306 ngày 25/12/2019, cụ thể: Hợp đồng số 1603-LAV-2019001306/01 ngày 21/01/2020; Hợp đồng số 1603-LAV-2019001306/02 ngày 06/3/2020; Hợp đồng số 1603-LAV-2019001306/03 ngày 17/3/2020; Hợp đồng số 1603-LAV-2019001306/04 ngày 17/12/2020.

- Dư nợ gốc đến thời điểm hiện tại (theo Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 1603-LAV-2019001306/04 ngày 17/12/2020 và Giấy nhận nợ (lần 4) số: 1603-LDS-202002328 ngày 18/12/2020, số tiền vay: 6.000.000.000 đồng) là: 3.730.000.000 đồng;

- Thời hạn cho vay: 06 tháng (từ ngày 18/12/2020 đến 18/6/2021);

- Trả nợ gốc: Cuối kỳ, ngày 18/6/2021;

- Lãi suất cho vay: 9,5%/năm;

- Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn;

- Lãi chậm trả: 10%/ năm;

- Tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay là quyền sử dụng Thửa đất số 140, 930, Tờ bản đồ số 7 tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An do ông Bùi Đình Uyên T là chủ sử dụng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202000067 ngày 20/01/2020, công chứng tại Văn phòng C5, số công chứng: 663, quyển số: 01/TP/CC-SCC/HĐGD và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202000067/01 ngày 17/12/2020, công chứng tại Văn phòng C5, số công chứng: 13184, quyển số: 12/TP/CC-SCC/HĐGD; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20/01/2020.

Hiện tại, công ty Đ1 đã vi phạm cam kết trả nợ trong hợp đồng tín dụng với Ngân hàng. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau:

1. Buộc công ty Đ1 thanh toán số nợ phát sinh từ Giấy nhận nợ (lần 4) số: 1603-LDS-202002328 ngày 18/12/2020 tạm tính đến ngày 30/9/2024, tổng số tiền là: 5.893.313.451 đồng, chi tiết như sau:

  • - Nợ gốc: 3.730.000.000 đồng.
  • - Tiền lãi trong hạn: 185.194.519 đồng.
  • - Tiền lãi quá hạn: 1.915.018.767 đồng.
  • - Tiền lãi chậm trả: 63.100.165 đồng.

Và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng và khế ước nhận nợ.

2. Trường hợp công ty Đ1 không thanh toán hoặc thanh toán nhưng không đầy đủ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng Thửa đất số 140, 930, Tờ bản đồ số 7 tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.

Ông Bùi Đình Uyên T là người đại diện theo pháp luật của bị đơn công ty Đ1; đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - là Bên thế chấp tài sản để bảo đảm khoản vay của công ty Đ1 trình bày tại Bản tự khai ngày 28/6/2024 như sau:

Ông Bùi Đình Uyên T xác nhận ông có đại diện cho công ty Đ1 ký kết hợp đồng tín dụng vay vốn của A1 - Chi nhánh L1, mục đích để bổ sung vốn lưu động của công ty. Ngân hàng đã giải ngân cho công ty Đ1 nhiều lần, ông không nhớ tổng số tiền công ty được giải ngân là bao nhiêu, nhưng ông xác nhận công ty Đ1 còn nợ Ngân hàng dư nợ gốc của Giấy nhận nợ giải ngân ngày 18/12/2020 là 3.730.000.000 đồng, và thừa nhận nợ Ngân hàng các khoản tiền lãi theo Đơn khởi kiện của nguyên đơn.

Ông T trình bày ông là chủ dụng Thửa đất số 140, 930, Tờ bản đồ số 7 tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, các thửa đất này là tài sản riêng của ông; ông đã thế chấp các thửa đất này để bảo đảm khoản vay của công ty Đ1. Nay, công ty Đ1 không còn khả năng trả nợ, ông đồng ý nguyên đơn được quyền phát mãi các thửa đất này để thu hồi nợ.

Ông Bùi Đình Uyên T hiện đang chấp hành án tại Trại giam A - Cục C3 - Bộ C4. Ông T đã đọc Đơn khởi kiện của nguyên đơn và ông có ý kiến đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; ông trình bày ông không có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trong vụ án. Tuy nhiên, ông đề nghị phía nguyên đơn xem xét giảm một phần tiền lãi do khoản vay trong thời điểm xảy ra Dịch bệnh C, công ty G3 trong việc sản xuất, kinh doanh nên mất khả năng trả nợ cho Ngân hàng.

Tại Đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ngày 28/6/2024, ông T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông trong toàn bộ quá trình Toà án tiến hành tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp, hòa giải và xét xử vụ án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang cư trú trong căn nhà trên đất thế chấp là ông Đàng Văn G, bà Nguyễn Thị G1, ông Đoàn Văn H, bà Huỳnh Thị B, bà Đoàn Kim C1, trẻ Đoàn Ngọc Kiều M đã được Toà án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; đồng thời, triệu tập ông Đàng Văn G, bà Nguyễn Thị G1, ông Đoàn Văn H, bà Huỳnh Thị B, bà Đoàn Kim C1, trẻ Đoàn Ngọc Kiều M đến Tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của người khỏi kiện và để hòa giải nhưng gia đình ông Đàng Văn G nhiều lần từ chối nhận văn bản tố tụng của Toà án và vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng, không có bản khai và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Văn T1, ông Đoàn Văn T2, ông Đoàn Văn C2, ông Cao Văn R và ông Nguyễn Văn Đ có cùng ý kiến trình bày như sau:

Ông T1, ông T2, ông C2, ông R và ông Đ có người thân chôn cất, lập mộ trên Thửa đất số 930 từ lâu, trước khi gia đình ông Đàng Văn G chuyển nhượng đất cho người khác. Các ông đề nghị Toà án giải quyết vụ án vắng mặt các ông trong toàn bộ quá trình Toà án tiến hành tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp, hòa giải và xét xử vụ án.

Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, ra Thông báo thụ lý vụ án đúng pháp luật, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Thẩm phán ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng những quy định về thủ tục tố tụng.

- Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Toà án nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N yêu cầu bị đơn Công ty cổ phần Đ1 trả số tiền nợ còn thiếu phát sinh từ hợp đồng tín dụng, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự. Xét, nguyên đơn có địa chỉ chi nhánh tại Quận A và tranh chấp giữa hai bên phát sinh từ hoạt động của chi nhánh, nên trên cơ sở yêu cầu của nguyên đơn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về tư cách tham gia tố tụng và xét xử vụ án vắng mặt đương sự:

Căn cứ Quyết định về việc uỷ quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 và Giấy uỷ quyền số 1387/GUQ-NHNo.LTK-KTKSNB ngày 28/8/2023, ông Phạm Văn C được đại diện nguyên đơn là Ngân hàng N tham gia tố tụng.

Xét, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang cư trú trên tài sản thế chấp là ông Đàng Văn G, bà Nguyễn Thị G1, ông Đoàn Văn H, bà Huỳnh Thị B, bà Đoàn Kim C1, trẻ Đoàn Ngọc Kiều M đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt; ông Phạm Văn C là đại diện của nguyên đơn, ông Bùi Đình Uyên T, ông Đoàn Văn T1, ông Đoàn Văn T2, ông Đoàn Văn C2, ông Cao Văn R và ông Nguyễn Văn Đ có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương nêu trên.

[2]. Về yêu cầu của nguyên đơn:

[2.1] Về tiền nợ gốc:

Xét, Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201901306 ngày 25/12/2019; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-2019001306/04 ngày 17/12/2020 và Giấy nhận nợ (lần 4) số: 1603-LDS-202002328 ngày 18/12/2020 ký kết giữa A1 - Chi nhánh L1 với Công ty cổ phần Đ1 được giao kết trên sự tự nguyện, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Xét lời khai của nguyên đơn về việc bị đơn còn nợ số tiền gốc chưa thanh toán là 3.730.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ văn bản cung cấp thông tin số 533/ĐKKD-T6 ngày 17/01/2024 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H, thì ông Bùi Đình Uyên T là người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần Đ1. Ông T đã có văn bản đại diện công ty Đ1 trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt công ty Đ1 và ông. Tuy nhiên, do ông T đang chấp hành án tại Trại giam A - Cục C3 - Bộ C4, nên để bảo đảm quyền được tham gia tố tụng của bị đơn, Tòa án đã căn cứ Bản Điều lệ của công ty Đ1, chỉ định ông Từ Văn L và ông Nguyễn Thanh S là các cổ đông của công ty Đ1 đại diện công ty Đ1 tham gia tố tụng. Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ theo địa chỉ trụ sở chính của công ty và địa chỉ thường trú của ông Từ Văn L và ông Nguyễn Thanh S (thông tin về địa chỉ do Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố H cung cấp) thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; đồng thời, triệu tập bị đơn đến Tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện và để hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng, không có bản khai và cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Do vậy, không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét ý kiến, yêu cầu, nguyện vọng nếu có của các cổ đông khác của công ty. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn Ngân hàng đã cung cấp để làm cơ sở xét xử vụ án.

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201901306 ngày 25/12/2019; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-2019001306/04 ngày 17/12/2020 và Giấy nhận nợ (lần 4) số: 1603-LDS-202002328 ngày 18/12/2020; các bảng sao kê tính lãi, các Thông báo của ngân hàng do nguyên đơn nộp cho Tòa án và lời khai của ông Bùi Đình U T là người đại diện theo pháp luật của công ty Đ1 ký kết các hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ, Hội đồng xét xử chấp nhận lời khai của nguyên đơn.

[2.2] Về tiền lãi:

Tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Xét thấy, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn là 9,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201901306 ngày 25/12/2019; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-2019001306/04 ngày 17/12/2020 và Giấy nhận nợ (lần 4) số: 1603-LDS-202002328 ngày 18/12/2020 là không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng”. Xét thấy, đến thời hạn thanh toán mà công ty Đ1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ dẫn đến nợ quá hạn, nên nguyên đơn yêu cầu thu hồi toàn bộ khoản nợ và tiền lãi trong hạn; đồng thời áp dụng lãi suất nợ quá hạn kể từ thời điểm quá thời hạn thanh toán là có cơ sở chấp nhận.

[2.4] Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

Căn cứ Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc Công ty cổ phần Đ1 thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền nợ tính đến ngày 30/9/2024, tổng cộng là 5.893.313.451 đồng (trong đó bao gồm : nợ gốc là 3.730.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 185.194.519 đồng; tiền lãi quá hạn là : 1.915.018.767 đồng và tiền lãi chậm trả là 63.100.165 đồng).

Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, thì kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

[2.5] Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của nguyên đơn:

Theo Công văn số 1081/CN.VPĐKĐĐ-HCTH ngày 15/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Long An thì tài sản thế chấp có tình trạng pháp lý như sau: “Thửa đất số 140, 930, tờ bản đồ số 7 do ông Bùi Đình Uyên T, sinh năm 1983, CCCD số [...], địa chỉ thường trú: B P, Phường A, quận G, TP. đứng tên chủ sử dụng đất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 956556, BK 956600 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 25/6/2012. Theo hồ sơ lưu trữ giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện Đ từ tháng 8/2018 đến nay, thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 956556, BK 956600 do ông Bùi Đình Uyên T đứng tên chủ sử dụng đất có đăng ký giao dịch bảo đảm, cụ thể: Đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại Ngân hàng N - Chi nhánh L1, địa chỉ: 1L, Phường A, Quận A, TP. ngày 20/01/2020 theo hồ sơ số 467 và hiện tại chưa xóa giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện Đ”. Xét, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202000067 ngày 20/01/2020, công chứng tại Văn phòng C5, số công chứng: 663, quyển số: 01/TP/CC-SCC/HĐGD và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202000067/01 ngày 17/12/2020, công chứng tại Văn phòng C5, số công chứng: 13184, quyển số: 12/TP/CC-SCC/HĐGD ký giữa Bên nhận thế chấp là Ngân hàng N - Chi nhánh L1 với Bên thế chấp là ông Bùi Đình Uyên T được giao kết trên sự tự nguyện, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật; giao dịch thế chấp có công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định, nên hợp đồng thế chấp đã phát sinh hiệu lực pháp luật.

Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/4/2024 và Biên bản xác minh của Công an xã M, huyện Đ, tỉnh long An và xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/5/2024, thì hiện trạng trên Thửa đất số 140, Tờ bản đồ số 7 tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An có 01 căn nhà 01 tầng cấp 4, lợp mái tôn, vách tôn, hiện có gia đình của ông Đàng Văn G, bà Nguyễn Thị G1, ông Đoàn Văn H, bà Huỳnh Thị B, bà Đoàn Kim C1, trẻ Đoàn Ngọc Kiều M sử dụng và cư trú trong căn nhà này; hiện trạng trên Thửa đất số 930, Tờ bản đồ số 7 tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An có khoảng 21 ngôi mộ (có mộ có bia khắc tên, có mộ không có bia, có mộ mặc dù có bia mộ nhưng chữ bị mờ không đọc rõ được).

Theo Biên bản xác minh thực tế tại địa phương ngày 05/6/2024, thì Thửa đất số 140, 930 Tờ bản đồ số 7 tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An có nguồn gốc trước năm 1975 thuộc quyền sử dụng của ông Đoàn Văn B1. Sau này, ông Đoàn Văn B1 đã tặng cho hai thửa đất trên cho ông Đàng Văn G (tên khác là: Đoàn Văn G2). Sau đó, ông Đàng Văn G tặng cho con là ông Đoàn Văn H, ông Đoàn Văn H đã chuyển nhượng hai thửa đất trên cho người khác, qua nhiều lần chuyển nhượng mới đến chủ sử dụng trên giấy chứng nhận hiện nay là ông Bùi Đình Uyên T. Căn nhà trên Thửa đất số 140, Tờ bản đồ số 7 tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An là của ông Đàng Văn G xây cất không có giấy phép xây dựng và không có đăng ký cập nhật tài sản trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; gia đình của ông Đàng Văn G sinh sống và cư trú trong căn nhà trên thửa đất này từ trước năm 1975 đến nay, ông Bùi Đình Uyên T chỉ mua bán chuyển nhượng đất trên giấy tờ chứ chưa từng quản lý, sử dụng đất; tất cả các ngôi mộ trên Thửa đất số 930, Tờ bản đồ số 7 tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An đều thuộc thân tộc họ Đoàn được lập mộ trước năm 1975 và trước khi ông Bùi Đình Uyên T nhận chuyển nhượng. Do mồ mả đã có từ lâu, gia đình có họ tộc được chôn cất trên đất không còn cư trú ở địa phương nên hiện nay không xác định được hết các mồ mả này là người thân của gia đình nào. Hiện nay, chỉ biết được gia đình của ông Đàng Văn G, ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Văn T4, ông Đoàn Văn C2, ông Cao Văn R, ông Nguyễn Văn Đ là những gia đình có người thân chôn cất, lập mộ trên Thửa đất số 930 này.

Căn cứ kết quả xác minh nêu trên và lời khai của ông Bùi Đình Uyên T, cho thấy ông T nhận chuyển nhượng đất nhưng chưa nhận bàn giao đất, chưa quản lý, sử dụng đất mà gia đình của ông Đàng Văn G sử dụng đất liên tục từ trước năm 1975 đến nay. Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; đồng thời, triệu tập ông Đàng Văn G, bà Nguyễn Thị G1, ông Đoàn Văn H, bà Huỳnh Thị B, bà Đoàn Kim C1, trẻ Đoàn Ngọc Kiều M đến Tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện và để hòa giải nhưng gia đình ông Đàng Văn G nhiều lần từ chối nhận văn bản tố tụng của Toà án và vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng, không có bản khai và cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Do vậy, không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét ý kiến, yêu cầu, nguyện vọng nếu có của gia đình ông Đàng Văn G. Do các bên đương sự không có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không có ai tranh chấp về tài sản trên đất; ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Văn T4, ông Đoàn Văn C2, ông Cao Văn R, ông Nguyễn Văn Đ mặc dù trình bày có người thân chôn cất, lập mộ trên Thửa đất số 930 nhưng ông T3, ông T4, ông C2, ông R, ông Đ không có ý kiến, yêu cầu cụ thể gì trong việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Trường hợp sau này các bên có phát sinh tranh chấp liên quan đến tài sản, mồ mả trên đất thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác, theo quy định của pháp luật.

Theo khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Dân sự quy định về việc xử lý tài sản bảo đảm, theo đó: “đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ“.

Theo khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự quy định bên nhận thế chấp có quyền: “xử lý tài sản thế chấp khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ Luật này“.

Căn cứ các quy định nêu trên và quy định về phạm vi bảo đảm trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202000067 ngày 20/01/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202000067/01 ngày 17/12/2020, các bên thoả thuận phạm vi bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ của công ty Đ1 phát sinh từ hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng với công ty Đ1. Xét thấy, kể từ ngày giải ngân đến nay, công ty Đ1 không thực hiện nghĩa vụ đầy đủ đối với Ngân hàng đã làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Nay nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ đối với công ty Đ1 là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về chi phí tố tụng:

Theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”. Do yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ”, bị đơn phải có trách nhiệm hoàn trả số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 35.000.000 đồng cho nguyên đơn.

[4]. Án phí dân sự sơ thẩm:

Xét, yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40; khoản 2 Điều 91; Điều 92; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

- Căn cứ khoản 1 Điều 299; khoản 7 Điều 323; khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự,

- Căn cứ khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng,

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,

- Căn cứ khoản 1 Điều 6 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử :

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn :
    1. Buộc Công ty cổ phần Đ1 thanh toán cho Ngân hàng N số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201901306 ngày 25 tháng 12 năm 2019; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-2019001306/04 ngày 17 tháng 12 năm 2020 và Giấy nhận nợ (lần 4) số: 1603-LDS-202002328 ngày 18 tháng 12 năm 2020 tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2024, tổng cộng là 5.893.313.451 (năm tỷ, tám trăm chín mươi ba triệu, ba trăm mười ba nghìn, bốn trăm năm mươi mốt) đồng [trong đó bao gồm : nợ gốc là 3.730.000.000 (ba tỷ, bảy trăm ba mươi triệu) đồng; tiền lãi trong hạn là 185.194.519 (một trăm tám mươi lăm triệu, một trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm mười chín) đồng; tiền lãi quá hạn là : 1.915.018.767 (một tỷ, chín trăm mười lăm triệu, mười tám nghìn, bảy trăm sáu mươi bảy) đồng và tiền lãi chậm trả là 63.100.165 (sáu mươi ba triệu, một trăm nghìn, một trăm sáu mươi lăm) đồng].
    2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 01 tháng 10 năm 2024) cho đến khi thi hành án xong, Công ty cổ phần Đ1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201901306 ngày 25 tháng 12 năm 2019; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-2019001306/04 ngày 17 tháng 12 năm 2020 và Giấy nhận nợ (lần 4) số: 1603-LDS-202002328 ngày 18 tháng 12 năm 2020.
    3. Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    4. Sau khi Công ty cổ phần Đ1 thanh toán hết số nợ trên, Ngân hàng N có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp tài sản bảo đảm đã thế chấp là quyền sử dụng Thửa đất số 140, 930, Tờ bản đồ số 7 tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An do ông Bùi Đình Uyên T đứng tên chủ sử dụng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 956556, BK 956600 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 25/6/2012, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202000067 ngày 20 tháng 01 năm 2020, công chứng tại Văn phòng C5, số công chứng: 663, quyển số: 01/TP/CC-SCC/HĐGD và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202000067/01 ngày 17 tháng 12 năm 2020, công chứng tại Văn phòng C5, số công chứng: 13184, quyển số: 12/TP/CC-SCC/HĐGD; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20 tháng 01 năm 2020.
    5. Trường hợp Công ty cổ phần Đ1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền và vi phạm thời hạn trả nợ nêu trên thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp là quyền sử dụng Thửa đất số 140, 930, Tờ bản đồ số 7 tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An do ông Bùi Đình Uyên T đứng tên chủ sử dụng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 956556, BK 956600 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 25/6/2012, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202000067 ngày 20 tháng 01 năm 2020, công chứng tại Văn phòng C5, số công chứng: 663, quyển số: 01/TP/CC-SCC/HĐGD và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202000067/01 ngày 17 tháng 12 năm 2020, công chứng tại Văn phòng C5, số công chứng: 13184, quyển số: 12/TP/CC-SCC/HĐGD; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20 tháng 01 năm 2020.

Sau khi trừ đi các khoản chi phí theo quy định của pháp luật, số tiền phát mãi được dùng để thanh toán cho Ngân hàng N. Trường hợp còn dư thì hoàn trả lại cho ông Bùi Đình Uyên T, nếu không đủ thì Công ty cổ phần Đ1 có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu cho Ngân hàng N cho đến khi hết nợ.

2. Chi phí tố tụng về việc xem xét, thẩm định tại chỗ: Công ty cổ phần Đ1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng N số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm là 113.893.313 (một trăm mười ba triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm mười ba) đồng, Công ty cổ phần Đ1 chịu.

Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.655.585 (năm mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, năm trăm tám mươi lăm) đồng, theo biên lai thu tiền số 35679 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - VKSND Q.10;
  • - Chi cục THADS Q.10;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu VP, hồ sơ.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Như Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 82/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger