Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG NGUYÊN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày: 29/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tường và ông Hoàng Nghĩa Toàn.

- Thư ký phiên toà: Bà Cao Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2024/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2023/HSST-QĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1, Nguyễn Tiến L, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 13 tháng 01 năm 1988, tại: huyện H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tiến T (đã chết); con bà: Trần Thị T1, sinh năm 1957; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày từ ngày 18/9/2024 đến 27/9/2024 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2, Nguyễn Quốc B, tên gọi khác: không; sinh ngày: 14 tháng 02 năm 1983, tại: huyện H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L1; con bà: Nguyễn Thị N; vợ: Lê Thị V; con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày từ ngày 18/9/2024 đến 27/9/2024 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn C; sinh năm: 1982; địa chỉ: Xóm A, xã X, huyện H. Vắng mặt.

Người chứng kiến: Anh Trần Văn H1, sinh năm: 1988, trú tại xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 8 năm 2024, Nguyễn Tiến L trong quá trình làm bốc vác tại chợ Đ1 thuộc phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An thì L nảy sinh ý định mua pháo nổ để bán kiếm lời. Lập đã gặp và mua của một người đàn ông làm nghề bốc vác (L không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này) 06 giàn pháo nổ loại 49 quả với giá 700.000đ/giàn và 05 giàn pháo nổ loại 36 quả với giá 600.000đ/giàn. Cộng: 7.200.000 đồng. Sau khi mua xong, L đưa số pháo nổ vừa mua được về nhà tại khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An cất dấu, khi nào có ai hỏi mua thì bán để kiếm lời.

Đến 11 giờ 37 phút ngày 18/9/2024, Nguyễn Quốc B do có nhu cầu mua pháo nổ để sử dụng nên B sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số loại: A57, màu đen có lắp số thuê bao 0362.924.239 gọi điện thoại đến số thuê bao 0941.713.187 của L và nói: "Em xem biết ai bán pháo lấy cho anh mấy giàn pháo loại 36 quả". L nói: "Anh lấy mấy giàn”. B nói: “Có thì lấy hộ anh 05 giàn loại 36 quả". L nói: “Có, em mới lấy được 05 giàn loại 36 đây". B nói: "Mấy tiền". L nói: "Bốn triệu, khi mô đưa". B nói: “Chiều đưa lên cho anh cái". Hiểu ý B nói đưa pháo nổ lên nhà cho B nên L đồng ý. Nói chuyện với B xong, L lấy 05 (năm) giàn pháo nổ loại 36 quả bỏ vào túi bóng để bán cho B. Đến khoảng 14 giờ 35 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô BKS: 37B2-141.25 (xe Lập mượn của anh Phạm Văn C) cùng với túi bao bóng màu đen bên trong có 05 (năm) giàn pháo nổ loại 36 quả đi từ nhà của L đến khu vực Đ tưởng niệm liệt sỹ thuộc xóm Đ, xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An, L sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A50, màu xanh nước biển, có lắp số thuê bao 0941.713.187 gọi điện đến số thuê bao 0362.924.239 của B và nói: “Anh ở mô đó ra chỗ đài tưởng niệm liệt sỹ lấy đi". B nói: "Em ở đó anh ra đón vô nhà". Khoảng 15 phút sau, B dẫn L về nhà. Khi vào nhà B, L để túi bóng màu đen có chứa 05 (năm) giàn pháo nổ loại 36 quả ở sân nhà. Kiểm tra thấy có đủ 05 (năm) giàn pháo nổ loại 36 quả B mang cất dấu ở gian phòng khách rồi đưa cho L số tiền 4.000.000 đồng. Nhận tiền xong L đi về.

Đến 16 giờ 15 phút ngày 18/9/2024, khi Bảo đang ở nhà thì có Trần Văn H1 đến chơi. Vì sợ H1 thấy pháo nổ nên B lấy túi bóng màu đen có chứa 05 (năm) giàn pháo nổ ở phòng khách đưa vào cất dấu trong phòng ngủ. Khi Bảo đang cầm trên tay thì bị tổ công tác Công an huyện H bắt quả tang, Tổ công tác thu giữ: 01 (một) túi bóng màu đen bên trong có 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối đều có kích thước (14x14x12)cm, được dán ngoài bằng giấy có nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số loại A57, màu đen, số IMEI 1: 869945065229599, IMEI 2: 869945065229581, máy đã qua sử dụng của Nguyễn Quốc B. Tại chỗ, B khai nhận 05 khối hình hộp chữ nhật nêu trên là 05 giàn pháo nổ loại 36 quả do B mua của Nguyễn Tiến L vào lúc 14 giờ 50 phút, ngày 18/9/2024 với giá 4.000.000 đồng với mục đích sử dụng.

Vào lúc 18 giờ 05 phút cùng ngày 18/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Tiến L. Quá trình khám xét thu giữ: 01 bì xác rắn màu xanh bên trong có chứa 06 (sáu) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A50, màu xanh nước biển, có số seri: R58M41C2S7B, số IMEI 1: 356646101968170, số IMEI 2: 356647101968178, máy đã qua sử dụng.

Ngày 19/9/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành tạm giữ xe mô tô BKS 37B2-141.25, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đen vàng, số máy: 55P1-141771, số khung: CY-141770 của anh Phạm Văn C.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 18/9/2024 của Công an huyện H xác định:

  • 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật thu giữ của Nguyễn Quốc B nêu trên có tổng khối lượng là 6,687kg. Hội đồng mở niêm phong đã lấy 02 khối có khối lượng 2,675kg gửi đi giám định.
  • 06 (sáu) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc và có in chữ nước ngoài thu giữ của Nguyễn Tiến L nêu trên có tổng khối lượng là 10,735kg. Hội đồng mở niêm phong đã lấy 02 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước (17x17x10) cm và 02 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước (16,5x16,5x9,5) cm, có tổng khối lượng 7,074kg gửi đi giám định.

Vật chứng còn lại là: 03 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (14x14x12) cm, có khối lượng là 4,012kg thu giữ của Nguyễn Quốc B; 01 khối hình hộp chữ nhật là pháo nổ, kích thước (17x17x10)cm và 01 (một) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (16,5x16,5x9,5)cm có tổng khối lượng là 3,661kg thu giữ của Nguyễn Tiến L.

Tại Bản kết luận giám định số 356/KL-KTHS (Đ2-CN) ngày 25/9/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Quốc B gửi giám định là pháo; thuộc loại pháo nổ. Mẫu cần giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Tại Bản kết luận giám định số 357/KL-KTHS (Đ2-CN) ngày 25/9/2024 của Phòng thuật hình sự, Công an tỉnh N kết luận: “Các mẫu vật ký hiệu M1, M2 thu giữ của Nguyễn Tiến L gửi giám định đều là pháo; đều thuộc loại pháo nổ. Mẫu cần giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Tại phiên tòa Nguyễn Tiến L và Nguyễn Quốc B đã khai nhận hành vi mà các bị cáo thực hiện giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.

Cáo trạng số 77/CT – VKS - HN ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Tiến L về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Nguyễn Quốc B về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến L phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”; bị cáo Nguyễn Quốc B phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi tư) đến 30 (ba mươi) tháng; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc B từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với 02 bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 02 bì đay miệng buộc kín đã được niêm phong, bên trong là pháo; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) diện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số loại: A57, màu đen, máy đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A50, màu xanh nước biển, máy đã qua sử dụng. Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu tại bị cáo L số tiền 4.000.000đ. Về án phí: Buộc bị cáo L và bị cáo B mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không trình bày lời bào chữa, không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản khám xét chỗ ở của bị cáo Nguyễn Tiến L cùng lập ngày 18/9/2024 và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa.

Có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 18/9/2024, tại xóm Đ, xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An, Tổ công tác Công an huyện H đã phát hiện và bắt quả tang bị cáo Nguyễn Quốc B đang tàng trữ trái phép 01 (một) túi bóng màu đen bên trong có 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối đều có kích thước (14x14x12) cm, được dán ngoài bằng giấy có nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài. Tại chỗ B khai nhận 05 khối hình hộp chữ nhật nêu trên là 05 giàn pháo nổ loại 36 quả bị cáo vừa mới mua của Nguyễn Tiến L vào lúc 14 giờ 50 phút ngày 18/9/2024 với giá 4.000.000đ.

Vào hồi 18 giờ 05 phút ngày 18/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tiến L tại khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An, đã thu giữ: 06 (sáu) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài. Nguyễn Tiến L khai nhận toàn bộ 05 khối hình hộp chữ nhật mà bị cáo đã bán cho B và 06 khối hình hộp chữ nhật mà Cơ quan điều tra đã thu giữ tại nhà bị cáo đều là 11 giàn pháo nổ do bị cáo mua của một người đàn ông làm nghề bốc vác vào tháng 8/2024 với giá 7.200.000đ với mục đích bán để kiếm lời. Bị cáo chỉ mới bán được cho B 05 cối pháo thì bị phát hiện và bị thu giữ.

Căn cứ vào các biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại hồi 17 giờ 55 phút và lập hồi 20 giờ 30 phút ngày 18/9/2024; căn cứ vào kết quả giám định của Phòng K, Công an tỉnh N ngày 25/9/2024 thì các mẫu vật (là các khối hộp hình chữ nhật) thu giữ tại nhà bị cáo Nguyễn Quốc B gửi tới giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ, có tổng khối lượng 6,687 kg; Các mẫu vật (là các khối hộp hình chữ nhật) thu giữ tại nhà bị cáo Nguyễn Tiến L gửi tới giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ, có tổng khối lượng 10,735 kg. Nên hành vi bán 6,687 kg pháo nổ và hành vi tàng trữ 10,735 kg pháo nổ nhằm mục đích bán để kiếm lời của bị cáo Nguyễn Tiến L đủ yếu tố cấu thành tội: “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015; hành vi tàng trữ 6,687 kg pháo nổ nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Nguyễn Quốc B đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Vụ án xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Biết rõ pháo là loại hàng hóa mà Nhà nước cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và buôn bán trên thị trường nhưng bị cáo L đã có hành vi mua 11 giàn pháo nổ có tổng khối lượng là 17,422 kg để bán kiếm lời; bị cáo B tàng trữ 05 giàn pháo nổ có tổng khối lượng 6,687 kg để sử dụng. Những hành vi này là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm các bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cần xem xét cho các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo B phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bố đẻ được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Q tặng Kỷ niệm chương "Chiến sỹ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 và được hưởng trợ cấp người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Bị cáo L hiện đang được hưởng chế độ trợ cấp đối với con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất và là thương binh loại A hạng 4/4.

[4]. Về hình phạt: Các bị cáo đều lần đầu tiên phạm tội, có nhân thân tốt, lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nơi cư trú rõ ràng. Nên chưa cần thiết cách ly mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục và cải tạo các bị cáo.

Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều là lao động tự do, không có tài sản có giá trị và hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6]. Về vật chứng: Vật chứng còn lại của vụ án gồm:

01 (một) bì đay miệng bì buộc kín, niêm phong bằng giấy màu trắng, trên giấy niêm phong in dòng chữ: "Vật chứng (là pháo nổ) thu giữ của Nguyễn Tiến L, vào ngày 18/9/2024 sau khi mở niêm phong nhúng nước và niêm phong lại"; 01 (một) bì đay miệng bì buộc kín, niêm phong bằng giấy màu trắng, trên giấy niêm phong in dòng chữ "Vật chứng (là pháo nổ) thu giữ của Nguyễn Quốc B, vào ngày 18/9/2024 sau khi mở niêm phong nhúng nước và niêm phong lại"; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số loại: A57, màu đen, số IMEI 1: 869945065229599, IMEI 2: 869945065229581, máy đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A50, màu xanh nước biển, có số seri: R58M41C2S7B, số IMEI 1: 356646101968170, số IMEI 2: 356647101968178, máy đã qua sử dụng.

Xét thấy: 02 bì đay bên trong là pháo nổ đã bị nhúng nước. Đây là vật chứng bị Nhà nước cấm tàng trữ nên cần cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

02 chiếc điện thoại di động là của bị cáo L và bị cáo B. Đây là các phương tiện mà các bị cáo sử dụng để liên lạc giao dịch mua bán pháo nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7]. Về biện pháp tư pháp: Do bị cáo Nguyễn Tiến L bán cho Nguyễn Quốc B 6,678 kg pháo nổ để lấy số tiền 4.000.000đ. Đây là tiền có được từ việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

[8]. Đối với người đàn ông làm nghề bốc vác (người bán pháo cho bị cáo L). Quá trình điều tra do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý.

Đối với anh Phạm Văn C, là người cho bị cáo L mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đen vàng, BKS 37B2-141.25 nhưng anh C không biết L sử dụng xe để đi mua pháo nên không phạm tội.

[10]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến L phạm tội: “Buôn bán hàng cấm".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến L 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư tháng). Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc B phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc B 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng. Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến L cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; giao bị cáo Nguyễn Quốc B cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện H giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bì đay buộc kín, niêm phong bằng giấy màu trắng,
  • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số loại: A57, màu đen, máy đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A50, màu xanh nước biển, máy đã qua sử dụng.

(Đặc điểm chi tiết được phản ánh tại biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 12/11/2024 giữa Công an huyện H với Cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên).

4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tại bị cáo Nguyễn Tiến L số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Nguyễn Tiến L và Nguyễn Quốc B mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND và CA huyện Hưng Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Nguyên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; người có QL và NV LQ;
  • - TAND và VKS tỉnh NA;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hoàng Nghĩa Toàn Nguyễn Văn T3

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Thanh

VỤ BUÔN BÁN HÀNG CẤM VÀ TÀNG TRỮ HÀNG CẤM (BC LẬP – BẢO)

TÀI LIỆU KÈM THEO:

  • - BB khám xét nơi ở của Bc Lập ngày 18/9 (BL 08)
  • - BB mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu đi giám định ngày 18/9 (BL 13-15)
  • - KL giám định số 356, 357 ngày 25/9 (BL 22-23)
  • - BB trả lại xe mô tô cho anh C (BL 44)
  • - BB bắt người PT quả tang lập hồi 16 h 30 phút ngày 18/9 (BL 60-61): Thu 05 giàn pháo + 01 DDT Oppo
  • - LK BC Bảo (BL 88-91; 95-99): BL 99
  • - LK người chứng kiến Trần Văn H1 (BL 100-105)
  • - BB giữ người trong TH khẩn cấp ngày 18/9 (BL 124): giữ Bc Lập và thu ĐT galaxy A50
  • - LK Bc Lập (BL 156-163; 169-179): BL 174
  • - LK LQ Phạm Văn C (BL 180-183): Anh rể của L: Cho L mượn từ đầu tháng 8 để L đi làm
  • - Đơn từ chối trợ giúp pháp lý của L (BL 203)
  • - VKS hỏi cung 02 Bc (BL 204-207)

Lưu ý:

B đã thanh toán 4 tr đồng cho L (đưa tiền mặt), Bc Lập thừa nhận đã nhận 4 tr đồng (BL 174)

Bc Lập hiện đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ của người hoạt động KC bị nhiễm chất độc hóa học thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí.

BL 144 BB giao nhận QĐ gia hạn tạm giữ lần 02 (BL 144): sai Bc Lập lại ghi BC Lê Văn T4; SN: 1982; Đc: Thôn M, xã H, H2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (buôn bán hàng cấm và tàng trữ hàng cấm)

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm và Tàng trữ hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án pháo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger