TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HS-ST
Ngày: 17/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU – TỈNH GIALAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bắc, bà Nguyễn Thị Phi Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lệ Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Nguyễn Thanh An - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: /2024/QĐST-HS ngày 25/4/2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Xuân H (ten gọi khác: không); Giới tính: N; sinh năm 2000 tại Gia Lai; Nơi cư trú: Tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Họ tên: Nguyễn Thanh N1 (tên gọi khác không); Giới tính: Nam; sinh ngày 2000 tại Gia Lai; Nơi cư trú: Tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Cha: Không rõ; Mẹ: Nguyễn Thị Hải H1, sinh năm 1970. Hiện mẹ bị cáo sinh sống tại: 5 Đ, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai
Gia đình bị cáo cáo có 3 anh chị em ruột lớn nhất sinh năm 1994 nhở nhất sinh năm 2001 bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Bị cáo có vợ: Văn Minh T, sinh năm 2000 hiện đang sinh sống tại: thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Cha: Nguyễn Thành P, sinh năm 1974; Mẹ: Đinh Thị Minh T1, sinh năm 1980 hiện cha mẹ sinh sống tại: Tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Gia đình bị cáo có hai anh em bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. BỊ cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2024 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Lê Văn T2 – sinh năm: 2000; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Vắng mặt Tại phiên tòa
- Trần Văn T3 – sinh năm: 1999, Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Vắng mặt Tại phiên tòa
- Phạm Minh T4, sinh năm 2000; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Vắng mặt Tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4/2021, giữa Sử Chấn P1 với Lê Văn H2 (sinh năm 2003, trú tại thôn Đ, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai), Hoàng Văn Quyết T5 (sinh năm 2003, trú tại Tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai) và Phạm Thành L (sinh năm 2004, trú tại Tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai) xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến đánh nhau tại phường Y, thành phố P. Hậu quả, L bị P1 dùng dao đâm vào tay gây thương nhẹ, L đến cơ sở y tế tư nhân khâu vết thương rồi đi về, không nhập viện điều trị. Từ mâu thuẫn trên, nhóm của L, T5, H2 (thường gọi là nhóm Đ) và nhóm của P1 (thường gọi là nhóm E) đã nhiều lần mang theo hung khí đi tìm đánh nhau, nhưng chưa gặp lần nào.
Đêm ngày 12/5/2021, Lê Văn H2 cùng với Nguyễn Đăng Nhật L1 (sinh năm 2003, trú tại thôn Đ, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Tấn H3 (sinh năm 2002, trú tại Tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Phan Tấn N2 (sinh năm 2002, trú tại Tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Đinh Mai Thanh T6 (sinh năm 2002, trú tại tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Cù Minh L2 (sinh năm 2004, trú tại khu tập thể I, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Quách Hoài B (sinh năm 2003, trú tại Thôn C, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Hữu Q (sinh năm 2004, trú tại Tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Hoàng Thanh N3 (sinh năm 2003, trú tại Thôn D, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Võ Thành L3 (sinh năm 2004, trú tại Tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Mai Ngọc H4 (sinh năm 2004, trú tại Tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Lê Viễn P2 (sinh năm 2005, trú tại Thôn C, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Vũ Huy H5 (sinh năm 2003, trú tại Tổ F, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Tùng N4 (sinh năm 2003, trú tại Tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai) và khoảng 5-6 đối tượng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mang theo dao phóng lợn, dao mác đi dạo quanh khu vực phường T, thành phố P tìm đánh nhóm của Sử Chấn P1. Khi qua đường L rẽ lên đường Lý Nam Đ1 đến trước cổng vào của Bến xe Đ thì nhóm của Lê Văn H2 thấy Sử Chấn P1 đang ngồi nhậu cùng Hoàng Công M, Huỳnh Phan Phi L4, Huỳnh Trọng H6 và một số người khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Lê Văn H2 hô: “Chấn P1 kìa”, Hoàng Văn Quyết T5 hô theo “Đúng rồi”. Nghe vậy, H2 cầm dao phóng lợn nhằm P1 đuổi chém, P1 bỏ chạy vào sân bóng ở gần đó trốn thoát; những người ngồi nhậu cùng P1 cũng bị đuổi đánh, nhưng chạy thoát.
Do bực tức vì bị nhóm của Lê Văn H2 đuổi đánh nên trưa ngày 13/5/2021, Sử Chấn P1 nhắn tin thách thức, hẹn đánh nhau với Lê Văn H2 vào tối cùng ngày. Sau đó, P1 rủ Hoàng Công M, Huỳnh Trọng H6, Đặng Văn P3, Huỳnh Phan Phi L4, Trần Duy T7, L5 và T8 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tập trung lực lượng để đánh nhau với nhóm của Lê Văn H2, thì tất cả đều đồng ý. H6 rủ Phạm Minh T4, Lê Văn T2; T2 rủ thêm Trần Văn T3, Dương Văn T9, Nguyễn Xuân H (sinh năm 2000, trú tại Tổ D, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Thanh N1 (sinh năm 2000, trú tại Tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Hữu T10 (sinh năm 2002, trú tại Tổ E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Văn L6 (sinh năm 2001, trú tại Tổ D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai) và Nguyễn Viết D (sinh năm 2001, trú tại Tổ H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai). Đặng Văn P3 rủ Võ Văn T11, còn Trần Duy T7 rủ Trần Ngọc Anh V. Ty rủ Nguyễn Tam P4; P4 rủ thêm Mai Thế Đ2 (sinh ngày 17/10/2006, trú tại Tổ E, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai).
Khoảng 22 giờ ngày 13/5/2021, Sử Chấn P1, Hoàng Công M, Phạm Minh T4, Huỳnh Trọng H6, Huỳnh Phan Phi L4, Đặng Văn P3, Võ Văn T11, Trần Duy T7, Trần Ngọc Anh V, Nguyễn Tam P4, Mai Thế Đ2, Lê Văn T2, Trần Văn T3, Dương Văn T9, Nguyễn Xuân H, Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Hữu T10, Nguyễn Văn L6, Nguyễn Viết D, Tô Thanh T12 (sinh năm 2001, trú tại thôn C, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai), T8 và L5 (đều chưa rõ nhân thân, lai lịch) tập trung tại bãi đất trống của khu dân cư S trên đường L, phường T, thành phố P. Tại đây, P1 và H6 lấy hung khí đã chuẩn bị từ trước gồm dao tự chế, ống tuýp sắt phát cho cả nhóm. Sau đó, T12 điều khiển xe mô tô biển số 81B2-806.30 chở H6 ngồi sau cầm dao tự chế; L4 điều khiển xe mô tô (chưa rõ biển số của Tô Thanh T12) chở M và Tô Thanh T12 ngồi sau cầm dao tự chế; T2 điều khiển xe mô tô 81P1-337.78 chở T9 ngồi sau ống tuýp sắt; Trần Văn T3 điều khiển xe mô tô 81B2-891.01 chở Nguyễn Thanh N1 ngồi sau cầm ống tuýp sắt; P3 điều khiển xe mô tô biển số 81B2-945.55 chở T11 ngồi sau cầm dao tự chế; V điều khiển xe mô tô biển số 81B2-544.11 chở T7 ngồi sau cầm dao tự chế; Đ2 điều khiển xe mô tô (chưa rõ biển số) chở P4 ngồi sau cầm ống tuýp sắt; 01 nam thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô chở H ngồi sau cầm dao tự chế; cả nhóm do H6 dẫn đầu cùng đi ra hướng phường Y tìm đánh nhóm Lê Văn H2; riêng P1 ở lại vì H6 không cho đi.
Đối với nhóm của Lê Văn H2: Sau khi nhận lời thách thức và hẹn đánh nhau với Sử Chấn P1, H2 rủ rê, tập hợp lực lượng tại đường H, phường Y, chuẩn bị hung khí đánh nhau với nhóm Sử Chấn P1, gồm: Lê Viễn P2, Vũ Huy H5, Phan Tấn N2, Hoàng Thanh N3, Võ Thành L3, Đinh Mai Thanh T6, Nguyễn Tấn H3, Nguyễn Hữu Q, Mai Ngọc H4, Nguyễn Đăng Nhật L1, Phan Trung T13 (sinh năm 2002, trú tại Tổ E, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Lương Văn T14 (sinh năm 2002, trú tại Tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Ksor K (sinh năm 2005, trú tại làng P, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Phan Công Đ3 (sinh năm 2003, trú tại Thôn B, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Lê Đan T15 (sinh năm 2002, trú tại Tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Ngọc K1 (sinh năm 2003, trú tại Thôn B, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Phạm Phúc L7 (sinh năm 2003, trú tại Thôn B, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Lê Bảo T16 (sinh năm 1999, trú tại Tổ H, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Xuân B1 (sinh năm 2004, trú tại làng P, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Trần Quốc C (sinh năm 2004, trú tại Tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Thái Thế H7 (sinh năm 2003, trú tại Tổ A, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Xuân T17 (sinh năm 2002, trú tại Tổ C, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn B2 (sinh năm 2004, trú tại Tổ C, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Đình H8 (sinh năm 2002, trú tại Tổ D, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Cát Quyền L8 (sinh năm 2004, trú tại Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Tấn V1 (sinh năm 1996, trú tại Tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Hoàng Văn Quyết T5 (sinh năm 2003, trú tại Tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Hồ Nguyễn Hoàng V2 (sinh năm 2003, trú tại Tổ I, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Phạm Thành L (sinh năm 2004, trú tại Tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Quốc C1 (sinh năm 2003, trú tại Tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Lương Đại T18 (sinh năm 2003, trú tại Thôn A, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Phan Vĩnh T19 (sinh năm 2002, trú tại Tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Thanh T20 (sinh năm 2003, trú tại Tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai).
Khoảng 23 giờ ngày 13/5/2021, nhóm của H6 đi đến ngã ba Phạm Văn Đ4 - V thuộc Tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì gặp nhóm của Lê Văn H2 do Phan Tấn N2 dẫn đầu chạy theo hướng ngược chiều. Nhóm của H6 dừng lại để những người ngồi sau xuống xe cầm hung khí đứng chờ nhóm của Phan Tấn N2 đến đánh. Nhóm của N2 gồm N3, T13, K, H8, T6 cầm dao phóng lợn, còn Đ3, T17, B2, C, L3 và V1 cầm kiếm xuống xe xông đến đuổi chém nhóm của H6. Thấy nhóm của N2 có đông người và có nhiều hung khí hơn nên nhóm của H6 bỏ chạy. Khi bỏ chạy, H6 vấp ngã nên bị N3, T13, K và khoảng 04 người khác cầm dao phóng lợn lao đến đâm, chém vào ngực phải và tay trái; còn Phạm Minh T4 quay xe bỏ chạy nhưng bị ngã nên bỏ xe mô tô biển số 81B2-806.30 lại hiện trường rồi ngồi sau xe cùng H chạy thoát. Sau khi đâm H6, nhóm của N2 rời khỏi hiện trường. H6 được T3 và N1 chở đên Bệnh viện đa khoa tỉnh G cấp cứu; đến ngày 20/5/2021, thì xuất viện. Qua trưng cầu, tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 98 ngày 14/6/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh G, kết luận Huỳnh Trọng H6 bị thương tích 57%.
Ngày 06/5/2023, Nguyễn Xuân H và Nguyễn Thanh N1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P ra Quyết định truy nã. Đến ngày 09/01/2024, H bị bắt truy nã; ngày 19/02/2024 N1 ra đầu thú.
Tại bản cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 27/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H, bị cáo Nguyễn Thanh N1 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H, bị cáo Nguyễn Thanh N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017;
Áp dụng: Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2024.
Áp dụng: Điều 50; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh N1 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm đến 06 (sáu) tháng.
Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án (17/5/2024).
Đối với xe mô tô biển số 81B2-891.01 mà Nguyễn Thanh N1 đã sử dụng làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội, N1 đã bán chiếc xe này cho người khác không rõ nhân thân, lai lịch; hung khí gồm dao tự chế và ống tuýp sắt, H và N1 đã vứt bỏ trên đường về, không xác định được địa điểm, do đó Cơ quan điều tra không thu giữ được các vật chứng này.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân H và Nguyễn Thanh N1 khai nhận: Do có mâu thuẫn giữa nhóm Lê Văn H2 và nhóm Sử Chấn P1 nên P1 rủ Hoàng Công M, Huỳnh Trọng H6, Đặng Văn P3, Huỳnh Phan Phi L4, Trần Duy T7, L8 và T8 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tập trung lực lượng để đánh nhau với nhóm của Lê Văn H2. H6 rủ Phạm Minh T4, Lê Văn T2; T2 rủ thêm Trần Văn T3, Dương Văn T9, Nguyễn Xuân H (sinh năm 2000, trú tại Tổ D, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Thanh N1 (sinh năm 2000, trú tại Tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Hữu T10 (sinh năm 2002, trú tại Tổ E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Văn L6 (sinh năm 2001, trú tại Tổ D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai) và Nguyễn Viết D (sinh năm 2001, trú tại Tổ H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai). Đặng Văn P3 rủ Võ Văn T11, còn Trần Duy T7 rủ Trần Ngọc Anh V. Ty rủ Nguyễn Tam P4; P4 rủ thêm Mai Thế Đ2 (sinh ngày 17/10/2006, trú tại Tổ E, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai).
Khoảng 23 giờ ngày 13/5/2021, nhóm của H6 đi đến ngã ba Phạm Văn Đ4 - V thuộc Tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì gặp nhóm của Lê Văn H2 do Phan Tấn N2 dẫn đầu chạy theo hướng ngược chiều. Nhóm của H6 dừng lại để những người ngồi sau xuống xe cầm hung khí đứng chờ nhóm của Phan Tấn N2 đến đánh. Nhóm của N2 gồm N3, T13, K, H8, T4 cầm dao phóng lợn, còn Đ3, T11, B2, C, L3 và V1 cầm kiếm xuống xe xông đến đuổi chém nhóm của H6. Thấy nhóm của N2 có đông người và có nhiều hung khí hơn nên nhóm của H6 bỏ chạy. Khi bỏ chạy, H6 vấp ngã nên bị N3, T13, K và khoảng 04 người khác cầm dao phóng lợn lao đến đâm, chém vào ngực phải và tay trái; còn Phạm Minh T4 quay xe bỏ chạy nhưng bị ngã nên bỏ xe mô tô biển số 81B2-806.30 lại hiện trường rồi ngồi sau xe cùng H chạy thoát. Sau khi đâm H6, nhóm của N2 rời khỏi hiện trường. H6 được T10 và N1 chở đến Bệnh viện đa khoa tỉnh G cấp cứu.
Lời khai nhận tội của bị cáo H, bị cáo N1 phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Xuân H, bị cáo Nguyễn Thanh N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung 2017.
Hành vi tập trung đông người, sử dụng hung khí tham gia đánh nhau tại nơi giao nhau của các đường giao thông của các bị cáo là vi phạm quy định về trật tự công cộng theo Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 làm rối loạn giao thông đường phố, gây mất trật tự trị an nơi đô thị, gây tâm lý lo lắng hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Xét về vai trò, tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo:
Đối với Lê Văn H2 và đồng phạm đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai (tại Bản án số 22/2022/HSST-CTN ngày 18/8/2022) và Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng (tại Bản án số 480/2022/HSPT ngày 24/11/2022) xét xử về các tội: “Giết người” và “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Đối với Sử Chấn P1, Huỳnh Trọng H6, Lê Văn T2, Phạm Minh T4, Hoàng Công M, Huỳnh Phan Phi L4, Nguyễn Tam P4, Dương Văn T9, Trần Văn T3, Đặng Văn P3, Võ Văn T11 và Trần Ngọc Anh V đã bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku (tại Bản án số 150/2023/HSST ngày 13/9/2023) xét xử về tội: “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
Nên Hội đồng xét xử chỉ xem vai trò của bị cáo Nguyễn Xuân H và bị cáo Nguyễn Thanh N1.
Trong vụ án này hai bị cáo Nguyễn Xuân H và bị cáo Nguyễn Thanh N1, tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, giữ vai trò thứ yếu, không có sự phân công, bàn bạc với các bị cáo khác mà chỉ nghe Lê Văn T2 rủ rê, lôi kéo đi đánh nhóm của Đ là hai bị cáo tham gia. Hành vi trên của bị cáo H, bị cáo N1 là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thực tế đã có thiệt hại về sức khỏe xảy ra. Hành vi này của các bị cáo đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung tăng nặng là “Dùng hung khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên HĐXX cũng có phần xem xét cho các bị cáo: Đối với bị cáo Nguyễn Xuân H sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội, bị cáo đã đi khỏi địa phương và cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã đối với bị cáo. Bị cáo H bị bắt vào ngày 09/01/2024, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và bị cáo có bà ngoại, bà nội là người có công với cách mạng. Nnên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét cho bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Thanh N1 sau khi phạm tội đã đi học tập và lao động tại thành phố Hồ Chí Minh và Cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã đối với bị cáo, sau khi có lệnh truy nã gia đình bị cáo vận động bị cáo ra Cơ quan điều tra để đầu thú về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần trách nhiệm đối với bị cáo.
Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, bị cáo là người đã quay trở lại để đưa H6 đi cấp cứu kịp thời, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo cũng đã trúng tuyển vào ngành Quản trị kinh doan - Trường Cao đẳng công nghệ thông tin thành phố H. Xét về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tất cả những tình tiết khác của vụ án, về nhân thân đối chiếu với những quy định của pháp luật về điều kiện được hưởng án treo và để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Vì vậy HĐXX xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng chế tài án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răng đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Đối với xe mô tô biển số 81B2-891.01 mà Nguyễn Thanh N1 đã sử dụng làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội, N1 đã bán chiếc xe này cho người khác không rõ nhân thân, lai lịch; hung khí gồm dao tự chế và ống tuýp sắt, H và N1 đã vứt bỏ trên đường về, không xác định được địa điểm, do đó Cơ quan điều tra không thu giữ được các vật chứng này. Nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H, bị cáo Nguyễn Thanh N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân H 02 (hai) năm, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 09/01/2024.
Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điều 38; Điều 50, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh N1 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 04 (bốn) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 17/5/2024.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh N1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Xuân H, bị cáo Nguyễn Thanh N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay (ngày 17/5/2024) bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Tố Uyên |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU – TỈNH GIALAI về hình sự sơ thẩm (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU – TỈNH GIALAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Hưng cùng đồng bọn phạm tội Gây rối
