TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày: 12 - 12 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Bùi Anh Tấn, Bí thư Đoàn Thanh niên thị trấn An Châu, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền, Trưởng Phòng Giáo dục huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 12/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLST-HS, ngày 01/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HS, ngày 25/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đối với các bị cáo:
- Phan Minh T, sinh ngày 12/9/2006, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp V, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 05/12; Cha: Phan Văn T1, sinh năm: 1980; Mẹ: Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm: 1982; Tiền án, tiền sự: Không.
- Trần Văn D1, sinh ngày 20/6/2005, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 08/12; Cha: Trần Văn Dưa E, sinh năm: 1968; Mẹ: Võ Thị B, sinh năm: 1984; Tiền án, tiền sự: Không.
- Cù Văn S, sinh ngày 21/11/2005, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 08/12; Cha: Cù Văn S1, sinh năm: 1979; Mẹ: Trần Thị N, sinh năm: 1983; Tiền án, tiền sự: Không.
- La Trung H, sinh năm 2002, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp V, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 09/12; Cha: La Văn E1, sinh năm: 1976; Mẹ: Hồ Ngọc H1, sinh năm: 1979; Tiền án, tiền sự: Không.
- Nguyễn Thanh P, sinh ngày 06/8/2005, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp V, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Cha Huỳnh Văn S2 (chết); Mẹ: Nguyễn Thị L2, sinh năm: 1979; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/6/2024 tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện C cho đến nay.
Người bào chữa cho bị cáo Phan Minh T: Ông Hà Quang V - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/6/2024 đến ngày 27/11/2024 được tại ngoại cho đến nay.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/10/2024 tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện C cho đến nay.
Người bào chữa cho bị cáo Cù Văn S: Ông Phạm Minh T2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/10/2024 tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện C cho đến nay.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/10/2024 tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện C cho đến nay.
Bị hại: Anh Nguyễn Thành T3, sinh ngày 17/6/2006; Nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Đỗ Minh P1, sinh ngày 26/10/2008; Nơi cư trú: Ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
- Phan Thành Q, sinh ngày 25/12/2007; Nơi cư trú: Khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Phan Ngọc S4, sinh ngày 18/12/2007; Nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
- Nguyễn Trung H4, sinh ngày 11/11/2007; Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
- Võ Văn K, sinh ngày 05/9/2008; Nơi cư trú: Ấp V, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
- Nguyễn Danh Hồng H5, sinh ngày 01/5/2008; Nơi cư trú: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
- Hà Thành L1, sinh ngày 27/12/2008; Nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
- Anh Phan Văn T1, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Ấp V, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
- Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Ấp V, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Huỳnh Thị Cẩm T5, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Ngô Thị X, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của Đỗ Minh P1: Ông Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1984 (cha ruột của P1); Nơi cư trú: Ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Đỗ Minh P1: Bà Phạm Thanh Ái D2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A.
Người đại diện hợp pháp của Phan Thành Q: Bà Lê Thị Thanh T4, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Phan Thành Q: Bà Trần Thị Cẩm S3 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A.
Người đại diện hợp pháp của Phan Ngọc S4: Bà Phan Thị M, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Phan Ngọc S4: Ông Phan Văn H3 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Trung H4: Bà Huỳnh Thị Cẩm T5, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyễn Trung H4: Ông Phan Văn H3 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A.
Người đại diện hợp pháp của Võ Văn K: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Ấp V, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Võ Văn K: Ông Đỗ Khoa K1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyễn Danh Hồng H5: Ông Đỗ Khoa K1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A.
Người đại diện hợp pháp của Hà Thành L: Bà Ngô Thị X, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Hà Thành L1: Bà Phạm Thanh Ái D2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A.
Người làm chứng: Nguyễn Tuấn K2, Lê Viết H6, Hồ Bá T6, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Kim L2, Cù Văn S1, Trần Văn Dưa E, Nguyễn Anh K3, Đinh Nguyễn Thịnh C.
Bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Đỗ Khoa K1, Trần Thị Cẩm S3, Phạm Thanh Ái D2; người làm chứng ông Nguyễn Tuấn K2 có mặt. Anh Nguyễn Danh Hồng H5, ông Phan Văn H3 (trợ giúp viên pháp lý) và những người làm chứng khác vắng mặt tại phiên tòa; ông H3 có đơn xin vắng mặt và gửi đính kèm văn bản trình bày ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Phan Ngọc S4 và Nguyễn Trung H4.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Minh P1 (sinh ngày: 26/10/2008) và Lê Viết H6 (sinh ngày: 30/10/2009) mâu thuẫn, chửi nhau trên mạng xã hội. Khoảng 19 giờ ngày 12/9/2023, P1 cùng Phan Thành Q (sinh ngày: 25/12/2007), Phan Ngọc S4 (sinh ngày: 18/12/2007), Nguyễn Trung H4 (sinh ngày: 11/11/2007), Võ Văn K (sinh ngày: 05/9/2008), Nguyễn Danh Hồng H5 (sinh ngày: 01/05/2008), Nguyễn Anh K3 (sinh ngày: 10/8/2006) và Đinh Nguyễn Thịnh C (sinh ngày: 17/06/2008) ngồi uống nước tại quán cà phê bảng hiệu “Pin Pin” trong khu Trung tâm thương mại H7 thuộc ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang. Lúc này, P1 nói cho Q biết sự việc P1 và H6 mâu thuẫn, Hoàng chửi P2 trên mạng xã hội, nên Q kêu P2 đi tìm H6 đánh thì P2 đồng ý. P2, Q, Nguyễn Trung H4, K, S4 và H5 cùng nhau đến quán cà phê bảng hiệu “TLynh” trong khu Trung tâm thương mại HTG tìm H6 đánh, riêng K3 và C không tham gia. Khi đến trước cửa quán C1 “TLynh”, P2 và Q đứng bên ngoài, thấy H6 đang trong quán cùng Nguyễn Thành T3 (sinh ngày: 17/6/2006), Hồ Bá T6, Nguyễn Văn T7, P2 dùng tay chỉ về hướng H6 cho Q biết và kêu H6 ra nói chuyện nhưng H6 không ra, nên P2 chở Q cùng cả nhóm quay lại quán C1 “Pin P3”. P2 điện thoại cho Phan Minh T (sinh ngày: 12/9/2006) kêu T đem hung khí ra giúp P2 đánh nhau nhưng không nói người cần tìm đánh là ai, thì T đồng ý. Thời điểm này, T đang uống nước tại quán C1 “Hoa Nắng” cùng với Trần Văn D1, Cù Văn S (sinh ngày: 21/11/2005), Hà Thanh L3 (sinh ngày: 27/12/2008), Nguyễn Thanh P, La Trung H nên T rủ D1, S, L3, P, La Trung H giúp P2 đi đánh nhau thì tất cả đồng ý. T, D1, S, L3, P, La Trung H chạy xe đến nhà D1 để D1 lấy 01 cây búa đĩa dài khoảng 60 cm và 04 cây dao tự chế dài khoảng 50 cm - 110 cm làm hung khí đi đánh nhau giúp P2. Lạc chở T cầm 01 cây búa đĩa, D1 chở S cầm 02 cây dao tự chế, P chở La Trung H cầm 02 cây dao tự chế đến Trung tâm thương mại H7 với nhóm của P2. Khi đến nơi, nhóm của T gặp nhóm của P2 gồm P2, Q, Nguyễn Trung H4, K, S4 và H5, P2 nói cho cả nhóm biết người cần tìm đánh đang ở quán C1 “TLynh”, nhưng không nói người cần chém là ai. Lúc này, T đưa cho Q cây búa đĩa, La Trung H đưa cho S4 và K mỗi người 01 cây dao tự chế, S cầm 02 cây dao tự chế. Sau đó, P2 điều khiển xe mô tô biển số 68X1 - 205.93 chở Q cầm búa đĩa chạy trước dẫn đường, D1 điều khiển xe mô tô biển số 95C1 - 055.19 chở S cầm 02 cây dao tự chế, Nguyễn Trung H4 điều khiển xe mô tô biển số 51T4 - 3812 chở K cầm dao tự chế, H5 điều khiển xe (không rõ biển số) chở S4 cầm dao tự chế, P điều khiển xe gắn máy biển số 67FK - 0709 chở La Trung H, L3 điều khiển xe mô tô biển số 67F9 - 3063 chở T chạy theo P2 đến quán cà phê bảng hiệu “TLynh”. P2 chở Q cầm cây búa đĩa đến quán C1 “TLynh” trước, thấy H6 đang ngồi cùng T3, T6, T7 trên ghế sofa dài trong quán, Q cầm búa đĩa xuống xe, chạy vào quán thì H6 bỏ chạy, Q cầm búa đĩa bằng 02 tay chém 02 cái trúng khuỷu tay trái và cẳng chân trái của T3 gây thương tích, rồi chạy ra lên xe P2 chở tẩu thoát, những người còn lại trong nhóm của P2 chạy phía sau đến quán không gặp P2 và Q nên điều khiển xe về quán cà phê bảng hiệu “Hoa N1”. Sau đó, T3 được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viên Đa khoa trung tâm An Giang.
Vật chứng thu giữ:
- 01 dao tự chế dài 60 cm, lưỡi dao bằng kim loại 30 cm, cán dao gỗ dài 30 cm; 01 dao tự chế dài 110 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20 cm, cán dao bằng kim loại dài 90 cm (do Trần Văn D1 giao nộp).
- 01 cây dao tự chế dài 50 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 40 cm, cán dao bằng nhựa dài 10 cm (do Võ Văn K gia nộp).
- 01 dao tự chế dài 70 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 60 cm, cán dao bằng kim loại dài 10 cm (do Phan Ngọc S4 giao nộp).
- 01 xe mô tô biển số 51T4 - 3812 (do Nguyễn Trung H4 giao nộp).
- 01 xe mô tô biển số 67F9 - 3063 (do Hà Thành L1 giao nộp).
- 01 xe gắn máy biển số 67FK - 0709 (do Nguyễn Thanh P giao nộp).
- 01 xe mô tô biển số 95C1 - 055.19 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh (do Phan Minh T giao nộp).
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen (do Đỗ Minh P1 giao nộp).
Kết luận Giám định tổn thương cơ thể số 732/23/KLTTCT-TTPY ngày 16/11/2023 của Trung tâm P4 - Sở Y tế tỉnh A, kết luận:
Nguyễn Thành T3, sinh ngày 2006, nơi cư trú ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
- Các kết quả chính:
- - Sẹo mặt sau khuỷu tay trái, kích thước (06 x 0.6) cm là sẹo có kích thước lớn tỷ lệ là 03%. Gây:
- + Đứt cơ tam đầu cánh tay trái. Gãy hở lồi cầu ngoài xương cánh tay trái, đã phẫu thuật kết hợp xương, khâu cơ. Hiện tại không ảnh hưởng chức năng vận động khớp khuỷu tay trái. Tỷ lệ là 21%.
- + Sẹo mổ đầu trên, kích thước (04 x 0.3) cm là sẹo có kích thước trung bình tỷ lệ là 02%.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 25%. Do vật sắc gây nên.
- - Sây sát da dạng thẳng mặt ngoài 1/3 giữa cẳng chân trái để lại sẹo, kích thước (01 x 0.1) cm là sẹo có kích thước nhỏ tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%. Do vật sắc gây nên.
- Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần: xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Thành T3, áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư tại thời điểm giám định là 26%.
Cáo trạng số 72/CT-VKSCT ngày 31/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố các bị cáo: Phan Minh T, Trần Văn D1, Cù Văn S, La Trung H và Nguyễn Thanh P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi chung là Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa,
Các bị cáo nhận đã thực hiện hành vi như nội dung vụ án đã nêu, xác định cáo trạng truy tố đúng hành vi các bị cáo đã thực hiện. Đồng thời cho biết, giữa các bị cáo với bị hại hoàn toàn không có mâu thuẫn nhau từ trước, các bị cáo chuẩn bị và mang hung khí đi đánh nhau là do sự rủ rê của T và T được P1 gọi điện nhờ giúp, do P1 có mâu thuẫn với H6 trên mạng xã hội.
Đại diện gia đình của P1, Q và gia đình bị cáo Tình tự N2 bồi thường thêm tổng số tiền là 18.000.000 đồng, trong đó ông Nguyễn Thanh H2 (cha của P1) bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, bà Lê Thị Thanh T4 (mẹ của Q) bồi thường số tiền 6.000.000 đồng, ông Phan Văn T1 (cha bị cáo T) bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (đã nộp tại cơ quan thi hành án theo đơn xin khắc phục hậu quả). Bị hại đồng ý nhận thêm các khoản tiền bồi thường này, không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại nào khác. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Các ông, bà: Nguyễn Thanh H2, Lê Thị Thanh T4 và Phan Văn T1 xác định đây là sự tự nguyện của các ông, bà trong việc bồi thường cho các bị cáo, không yêu cầu hoàn trả lại số tiền này.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất quan điểm bào chữa của người bào chữa. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:
Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của chính các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định pháp y về thương tích đối với bị hại. Đồng thời, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định đề nghị truy tố đối với các bị cáo.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vai trò của các bị cáo trong đồng phạm, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- Về hình phạt:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Minh T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 08 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn D1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Cù Văn S từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 10 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo La Trung H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: 04 cây dao tự chế.
- Trả lại cho Huỳnh Thị Cẩm T5: 01 xe mô tô biển số 51T4 - 3812.
- Trả lại cho Ngô Thị X: 01 xe mô tô biển số 67F9 - 3063.
- Trả lại cho Nguyễn Thị L2: 01 xe gắn máy biển số 67FK - 0709.
- Trả lại cho Phan Văn T1: 01 xe mô tô biển số 95C1 - 055.19.
- Trả lại cho Phan Minh T: 01 điện thoại di động hiệu S5.
- Trả lại cho Đỗ Minh P1: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen.
- Về trách nhiệm dân sự, tại phiên tòa các đương sự đã tự nguyện thực hiện xong việc bồi thường, đề nghị ghi nhận sự tự nguyện này của các đương sự trong vụ án.
Bào chữa cho các bị cáo, người bào chữa thống nhất quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo.
Tuy nhiên, người bào chữa cho bị cáo T, đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo T không trực tiếp thực hiện hành vi mà chỉ đi theo; đại diện gia đình là ông T1 (cha bị cáo) đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại nên cần xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có sự hạn chế trong nhận thức pháp luật. Xét về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, do đó đề nghị xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.
Bào chữa cho bị cáo S, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ nguyên tắc trong xử lý người chưa thành niên phạm tội, xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.
Tranh luận với người bào chữa, Kiểm sát viên cho rằng, các bị cáo không chủ động trong việc bồi thường cũng như không có sự tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; việc bồi thường là do cha của bị cáo Tình tự N2 đến Tòa án làm đơn xin nộp khắc phục hậu quả. Do đó, không có căn cứ xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự như quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo T và bị cáo S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an nhân dân huyện C; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
- Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên không đề cập xem xét.
- Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng người tham gia tố tụng gồm: Nguyễn Danh Hồng H5, Phan Văn H3 và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Xét sự vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung:
Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa cũng như lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp nhau về thời gian, diễn biến sự việc như nội dung vụ án đã thể hiện.
Ngoài ra, lời khai nhận của các bị cáo còn phù hợp với thương tích của bị hại thể hiện tại Kết luận Giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 732/23/KLTTCT-TTPY ngày 16/11/2023 của Trung tâm P4 - Sở Y tế tỉnh A.
Từ đó, có căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 12/9/2023, nhận được điện thoại của phát, T rủ D1, S, L1, P, La Trung H giúp P1 đi đánh nhau thì tất cả đồng ý. Theo đó, D1 lấy 01 cây búa đĩa và 04 cây dao tự chế làm hung khí đi đánh nhau giúp P1. Khi đến nơi hẹn, nhóm của T gặp nhóm của P1 gồm P1, Q, Nguyễn Trung H4, K, S4 và H5. P1 nói cho cả nhóm biết người cần tìm đánh đang ở quán C1 “TLynh” trong khu trung tâm thương mại H7 thuộc ấp C, xã C, huyện C. P1 chở Q cầm cây búa đĩa đến quán C1 “TLynh” trước, thấy H6 đang ngồi cùng T3, T6, T7 trên ghế sofa dài trong quán, Q cầm búa đĩa xuống xe, chạy vào quán thì H6 bỏ chạy, Q cầm búa đĩa bằng 02 tay chém 02 cái trúng khuỷu tay trái và cẳng chân trái của T3 gây thương tích.
Các bị cáo: T, D1, S, P, La Trung H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mang hung khí đi đánh nhau là gây tổn hại cho sức khỏe và thương tích cho người khác nhưng vẫn thống nhất ý chí cùng với P1, Q, Nguyễn Trung H4, K, S4 và H5 thực hiện, dẫn đến thương tích cho bị hại được thể hiện tại Kết luận Giám định tổn thương cơ thể số 732/23/KLTTCT-TTPY ngày 16/11/2023 của Trung tâm P4 - Sở Y tế tỉnh A là 26%. Đồng thời, công cụ mà Q sử dụng để gây thương tích cho bị hại là búa đĩa bằng kim loại, đây được xem là loại hung khí nguy hiểm. Ngoài ra, giữa các bị cáo với bị hại không có mâu thuẫn từ trước, chỉ vì sự nhờ cậy của P1 và sự rủ rê của T, các bị cáo sẵn sàng về nhà chuẩn bị hung khí và mang theo đi tìm người khác đánh nhau, kết quả dẫn đến thương tích cho bị hại, thể hiện tính côn đồ trong thực hiện tội phạm.
Do đó, Cáo trạng số 72/CT-VKSCT ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố các bị cáo: Phan Minh T, Trần Văn D1, Cù Văn S, La Trung H và Nguyễn Thanh P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Sức khỏe là vốn quý của mỗi cá nhân và là nền tảng để mỗi người lao động, phát triển. Chính vì vậy, quyền được an toàn về sức khỏe của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đối với những người xâm phạm đến sức khỏe người khác một cách trái pháp luật, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất, là hình phạt. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến sức khoẻ của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung như quan điểm luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[3] Xem xét vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm:
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể mà cùng thống nhất ý chí và có hỗ trợ cho nhau trong thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, xem xét hành vi của từng bị cáo tham gia trong đồng phạm, nhận thấy bị cáo T là người giữ vai trò chính, chủ động rủ rê các bị cáo khác cùng thực hiện tội phạm; bị cáo D1 có vai trò tích cực trong việc chuẩn bị hung khí thực hiện tội phạm. Các bị cáo: Súng, H, P có vai trò giúp sức, ủng hộ tinh thần cho Q trong thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại. Vì vậy, có xem xét đến tính chất và mức độ tham gia của từng bị cáo trong đồng phạm khi quyết định hình phạt.
[4] Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo. Tại phiên tòa, bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; đại diện gia đình của P1, Q, T đã tự nguyện và chủ động bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thay cho các bị cáo. Xét về nhân thân, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trình độ văn hóa thấp thuộc thành phần lao động nghèo nên hạn chế trong nhận thức pháp luật. Do đó, có xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo trong khi lượng hình như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa.
[5] Bị cáo T, S, tại thời điểm thực hiện tội phạm các bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên có xem xét áp dụng quy định về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong quyết định hình phạt.
[6] Xem xét đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ – người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo T và bị cáo S trong quyết định hình phạt. Nhận thấy, bị cáo T, S không có sự chủ động, tự nguyện cũng như tích cực trong tác động gia đình thực hiện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại. Đồng thời, các bị cáo phạm tội với tình tiết định khung có tính chất côn đồ và cố ý trong thực hiện tội phạm.
Điểm c khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự quy định: Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội.
Do đó, đề nghị của người bào chữa là không có căn cứ chấp nhận như quan điểm tranh luận và đề nghị của Kiểm sát viên.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, không có nghề nghiệp ổn định, xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị hại và đại diện gia đình P1, Q, T đã tự nguyện thỏa thuận và thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại cho bị hại. Bị hại không yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường. Các ông, bà: Nguyễn Thanh H2, Lê Thị Thanh T4 và Phan Văn T1 không yêu cầu các bị cáo có trách nhiệm hoàn trả lại nên không đề cập xem xét trong vụ án.
[9] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 04 cây dao tự chế, không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu tiêu hủy.
Giao trả lại cho các chủ sở hữu đối với xe mô tô và điện thoại di động mà cơ quan điều tra đã tạm giữ do không liên quan đến tội phạm.
Đối với số tiền 2.000.000 đồng mà ông Phan Văn T1 – cha bị cáo T giao nộp khắc phục hậu quả theo biên lai thu tiền số 0002387 ngày 10/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, thấy rằng đây là số tiền ông T1 tự nguyện nộp để thay bị cáo T bồi thường cho bị hại và bị hại chưa trực tiếp nhận. Do đó, xét giao trả số tiền 2.000.000 đồng này cho bị hại.
[10] Các vấn đề khác:
Đỗ Minh P1, Phan Thành Q, Phan Ngọc S4, Nguyễn Trung H4, Hà Thanh L3, Võ Văn K, Nguyễn Danh Hồng H5 tại thời điểm cùng tham gia và thực hiện tội phạm với các bị cáo trong vụ án là chưa đủ 16 tuổi – tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện C không khởi tố, xử lý trách nhiệm hình sự là phù hợp, có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo: Phan Minh T, Trần Văn D1, Cù Văn S, La Trung H và Nguyễn Thanh P phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Minh T: 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo T tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam: 09/6/2024.
- Căn cứ đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn D1: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo D1 tính kể từ ngày bắt chấp hành án, có khấu trừ thời hạn bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/6/2024 đến ngày 27/11/2024 là 172 ngày.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo: Cù Văn S: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo S tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam: 16/10/2024.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo La Trung H: 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo H tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam: 15/10/2024.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P: 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo P tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam: 18/10/2024.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 04 cây dao tự chế (đặc điểm được xác định theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04 tháng 12 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành).
- Giao trả cho bà Huỳnh Thị Cẩm T5: 01 xe mô tô biển số 51T4 – 3812.
- Giao trả cho bà Ngô Thị X: 01 xe mô tô biển số 67F9 - 3063.
- Giao trả cho bà Nguyễn Thị L2: 01 xe gắn máy biển số 67FK - 0709.
- Giao trả cho ông Phan Văn T1: 01 xe mô tô biển số 95C1 - 055.19.
- Giao trả cho Phan Minh T: 01 điện thoại di động hiệu S5.
- Giao trả cho Đỗ Minh P1: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen.
(Đặc điểm, số khung, số máy được xác định theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04 tháng 12 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành).
- Giao trả cho anh Nguyễn Thành T3 2.000.000 (Hai triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0002387 ngày 10/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành mà ông Phan Văn T1 đã tự nguyện giao nộp khắc phục hậu quả cho bị cáo Phan Minh T.
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tâm |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích (criminal case)
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
