Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày: 08/5/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Công Chiếm
  2. Ông Nguyễn Đức Vinh

Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Đô - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 436/2024/QĐXXST-HS ngày 23/4/2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1986, tại: Tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: 1 Khu phố B, phường T, Thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ văn hoá: Lớp 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1969 và bà: Phạm Thị T1, sinh năm 1965; Vợ: Hà Thị Thùy L, sinh năm 1988; Có 02 con lớn nhất sinh năm 2011 nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/01/2024 chuyển sang tạm giam ngày 10/01/2024 (Có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Minh T2, sinh năm: 1977, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú: B412, Tổ H, Khu phố C, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 113/121, Tổ B, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 08/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn T3: không rõ năm sinh; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1950; Vợ, con; chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 09/9/2016 Công an Q1 ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 38521 về hành vi đánh bạc, bị cáo chưa nộp phạt.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/01/2024 chuyển sang tạm giam ngày 10/01/2024 (Có mặt tại phiên tòa).

3. Đinh Văn H1, sinh năm 1980, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú tại: 3, Tổ A, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 261/4, Tổ A, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 6/12; Họ tên cha: Đinh Văn L1, không rõ năm sinh; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L2, không rõ năm sinh; Vợ: Nguyễn Thị Diệu H2, sinh năm 1985; Có 01 sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 30/5/2019, Công an Q1 đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2924 về hành vi Đánh bạc, đã nộp phạt ngày 25/6/2019.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/01/2024 chuyển sang tạm giam ngày 10/01/2024 (Có mặt tại phiên tòa)

4. Bùi Văn D; sinh năm 1964 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 50 N, Tổ 47, Khu phố C, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ học vấn: 02/12; Họ tên cha: Bùi Văn T4 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L3 (đã chết); Vợ: Phan Thị Lệ Q, sinh năm 1969; Có 02 con nhỏ nhất sinh năm 2000 và lớn nhất sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/01/2024 chuyển sang tạm giam ngày 10/01/2024 (Có mặt tại phiên tòa)

5. Nguyễn Thị Hồng K, sinh năm 1984 tại: tỉnh Vĩnh Long; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 202/2, ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: G, Tổ D, Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Họ tên cha: Nguyễn Văn L4, không rõ năm sinh; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị E (đã chết); Chồng: Mai Tấn P, sinh năm 1990; Có 02 con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/01/2024 chuyển sang tạm giam ngày 10/01/2024 (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 03/01/2024, Nguyễn Thanh TNguyễn Thị Hồng K đến trước nhà số A, Tổ A, khu phố B, phường Đ, Quận A thì thấy có một số người (chưa xác định) đang đánh bạc bằng hình thức “bài cào" được thua bằng tiền, T và K tham gia đánh bạc. Sau đó, Nguyễn Minh T2, Bùi Văn DĐinh Văn H1 đến và cùng tham gia đánh bạc. Các con bạc sử dụng bộ bài tây 52 lá để chia cho mỗi con bạc 03 lá bài, số tiền đặt cược mỗi ván được thỏa thuận từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng. Mỗi con bạc lần lượt chia 03 ván bài.

Cách thức tính thắng thua bằng tiền tại sòng bạc trên như sau: Các lá bài có số từ át (A) đến 9 sẽ được tính “số nút" là số điểm tương ứng lá bài đó, các lá bài số 10, J, Q, K sẽ được tính 10 điểm. Sau khi nhận được chia 03 lá bài từ một con bạc (được gọi là “nhà cái”) thì các con bạc sẽ tính tổng điểm của 03 là bài đang có trên tay rồi so điểm với “nhà cái”. Tổng điểm được tính là số dư sau khi cộng điểm của 03 lá bài. Nếu số điểm của con bạc lớn hơn số điểm của “nhà cái” thì sẽ thắng nhà cái được số tiền tương đương số tiền đã đặt cược và ngược lại. Nếu con bạc nào có 03 lá bài bất t kỳ là J, Q, K thì được xem là có số điểm lớn nhất, sau đó đến 9 điểm và giảm lần lượt đến 01 điểm, nếu con bạc nào tổng điểm không có số dư thì nhỏ nhất (gọi là bù). Mỗi con bạc sẽ tham gia chia bài 03 ván hình thức làm nhà cái (riêng Đinh Văn H1 không làm nhà cái).

Đến khoảng 15 giờ 30 ngày 03/01/2024, khi Nguyễn Minh T2 đang chia bài ván kế tiếp cho T, D, H1K thì Công an phường Đ phát hiện, bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 xử lý.

Tại Cơ quan điều tra Công an Q1, T, D, T2, H1K đã khai nhận cùng nhau tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền. Tại sòng bạc trên, không có người tổ chức và không có người thu tiền xâu, mà do các con bạc tự rủ nhau chơi đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc T, D, T2, H1K mang theo số tiền tham gia đánh bạc được xác định như sau:

  • - Nguyễn Thanh T: Mang theo số tiền 6.000.000 đồng để đánh bạc, đến thời điểm bắt quả tang thì T đã bị thua số tiền 4.200.000 đồng, còn lại số tiền 1.800.000 đồng trên chiếu bạc.
  • - Bùi Văn D: Mang theo số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, đến thời điểm bị bắt quả tang thì D đã thắng được số tiền 700.000 đồng, thu giữ của D số tiền 1.700.000 đồng.
  • - Đinh Văn H1: Mang theo số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, đến thời điểm bị bắt quả tang thì H1 đã thắng được số tiền 100.000 đồng, thu giữ của H1 số tiền 300.000 đồng.
  • - Nguyễn Minh T2: Mang theo số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc, đến thời điểm bị bắt quả tang thì T2 đã thắng được số tiền 1.200.000 đồng, thu giữ của T2 số tiền 3.200.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị Hồng K: Mang theo số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc, đến thời điểm bị bắt quả tang thì K đã thắng được số tiền 2.200.000 đồng, thu giữ của K số tiền 4.200.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • - 11.200.000 đồng (trong đó thu giữ của Nguyễn Thanh T là 1.800.000 đồng; Bùi Văn D là 1.700.000 đồng; Đinh Văn H1 là 300.000 đồng; Nguyễn Minh T2 là 3.200.000 đồng và của Nguyễn Thị Hồng K là 4.200.000 đồng).
  • - 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.
  • - 01 tấm bảng bằng nhựa (dùng làm chiếu bạc).

Bản cáo trạng số: 135/CT-VKS, ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Thanh T, Nguyễn Minh T2, Đinh Văn H1, Bùi Văn D, Nguyễn Thị Hồng K về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, nêu lên những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T, Nguyễn Minh T2, Đinh Văn H1 từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bùi Văn D, Nguyễn Thị Hồng K từ 09 tháng tù đến 01 năm tù về tội “Đánh bạc”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã xác định. Các bị cáo không tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng thu giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tự khai, biên bản bắt người phạm tội quả tang... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 03/01/2024 Nguyễn Thanh T, Bùi Văn D, Đinh Văn H1, Nguyễn Minh T2Nguyễn Thị Hồng K đã cùng nhau tham gia đánh bạc bằng hình thức “bài cào” được thua bằng tiền, tại trước nhà số A, Tổ A, Khu phố B, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Khi Nguyễn Minh T2 đang chia bài ván kế tiếp cho T, D, H1K thì bị công an phường Đ phát hiện, bắt quả tang thu giữ tổng số tiền trên chiếu bạc là 11.200.000 đồng. Do đó hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “ Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm hại đến trật tự công cộng được Nhà nước bảo vệ, gây mất trật tự, an toàn xã hội, do vậy phải xét xử nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo:

Đối với bị cáo T khi tham gia đánh bạc bị cáo mang theo số tiền 6.000.000 đồng và sử dụng hết số tiền 6.000.000 đồng để đánh bạc, do bị cáo T sử dụng số tiền nhiều hơn các bị cáo khác nên xử phạt bị cáo mức án cao hơn các bị cáo còn lại.

Đối với các bị cáo Nguyễn Minh T2 từng bị xử lý hành chính về “ Đánh bạc” vào ngày 09/9/2016 chưa nộp phạt, nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xét xử nghiêm, xử phạt bị cáo mức án cao hơn các bị cáo còn lại.

Đối với các bị cáo Đinh Văn H1 từng bị xử lý hành chính về “ Đánh bạc” vào ngày 30/5/2019 đã nộp phạt ngày 25/6/2019, nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xét xử nghiêm, xử phạt bị cáo mức án cao hơn các bị cáo còn lại. Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo H1 khi tham gia đánh bạc bị cáo H1 chỉ sử dụng số tiền đánh bạc là 200.000 đồng ít hơn các bị cáo khác.

Đối với các bị cáo Bùi Văn DNguyễn Thị Hồng K; Xét tính chất và mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, thì cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, đồng thời cũng nhằm mục đích răng đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết mới đủ răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, vì các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về vật chứng của vụ án:

Cần tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không còn giá trị sử dụng: 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 01 tấm bảng bằng nhựa (dùng làm chiếu bạc).

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc: 11.200.000 đồng (trong đó thu giữ của Nguyễn Thanh T là 1.800.000 đồng; Bùi Văn D là 1.700.000 đồng; Đinh Văn H1 là 300.000 đồng; Nguyễn Minh T2 là 3.200.000 đồng và Nguyễn Thị Hồng K là 4.200.000 đồng.

- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phạm tội lần đầu và chưa có thu lợi bất chính.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T: 09 (Chín) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2: 09 (Chín) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đinh Văn H1: 08 (Tám) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Bùi Văn D: 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng K: 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 tấm bảng bằng nhựa.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 11.200.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 108/QĐ-VKS, ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • - Phòng PC53 CA TP. HCM; (01)
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
  • - UBND phường nơi bị cáo cư trú; (1b)
  • - Bị cáo (2b);
  • - Bộ phận THA Hình sự (5b);
  • - Lưu (vt, hs) (8b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger