TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HS-PT Ngày: 30/10/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Bình
Ông Bùi Thanh Quốc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 141/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo, kháng nghị:
Nguyễn Thanh Đ, sinh ngày 18/02/1989 tại An Giang; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thúy H, sinh năm 1969; vợ: Hà Thị N, sinh năm 1991; con: có 02 người – lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án, còn có đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18 tháng 05 năm 2019, Nguyễn Thanh Đ sinh năm 1989, cư trú ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang là tài xế của công ty trách nhiệm hữu hạn H1 điều khiển xe ô tô khách biển số 67B-01161 lưu thông hướng từ T về B, khi đến Km 20 +500 đường T thuộc khu vực H, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ va chạm xe mô tô biển số 67F9-1598 do ông Nguyễn Thành N1 sinh năm 1962, cư trú ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang điều khiển chở vợ phía sau là bà Bùi Thị L sinh năm 1967 cư trú cùng địa chỉ và cháu ngoại là Đoàn Nguyễn Anh Thư S1 năm 2017, cư trú ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang đang lưu thông cùng chiều phía trong bên phải hướng T về B. Hậu quả xảy ra làm bà Bùi Thị L bị thương nặng được đưa đến bệnh viện Đ2 để điều trị, đến 10 giờ 25 phút ngày 20 tháng 05 năm 2019 bà L từ vong tại bệnh viện.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện xác định: tại hiện trường là cầu Ô rộng 09m, chia làm hai chiều xe chạy, ở giữa có vạch kẻ đường màu trắng liền nét, mỗi chiều xe chạy rộng 4,5m. Sau tai nạn xe mô tô biển số 67F9-1598 để lại một vết cây không liền nét dài 8,7 mét có chiều hưởng từ T về B, đầu vết đầu vết cây đo vào lề là 1,5m. Từ đó xác định vùng va chạm giữa hai xe đo vào lề chuẩn là 1,85m, cách đầu vết cây khoảng 2,75m. Sau tai nạn xe ô tô biển số 67B-011.61 đã di chuyển ra khỏi hiện trường. (BL: 49-50).
Kiểm tra giám sát hành trình tốc độ xe ô tô khách biển số 67B- 011.61 thời điểm xảy ra tai nạn vận tốc của xe ô tô là 37Km/h. Tại bản kết giám định số 135/KLGĐ-PC09 ngày 03 tháng 6 năm 2019 của Phòng K Công an thành phố C kết luận nguyên nhân từ vong của nạn nhân Bùi Thị L, sinh năm 1967, tử vong do dập não và xuất huyết não, sau chấn thương sọ não nặng (BL: 170).
Tại kết luận giám định số 1981/C09B ngày 11 tháng 5 năm 2021 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Dấu vết hằn trượt xước, bong tróc sơn màu vàng, bám chất màu đen mặt ngoài bên phải thành xe (tại vị trí cung sau chắn bùn bánh trước bên phải) xe ô tô biển số 67B-01161, có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải phù hợp với dấu vết trượt xước, cong biến dạng, bám chất màu vàng đầu và cần gương chiếu hậu bên trái xe mô tô biển số 67F9-1598, có chiều từ sau về trước, từ phải sang trái. Trên cơ sở cơ chế hình thành dấu vết và hồ sơ vụ tai nạn giao thông đường bộ nêu trên, xác định: Cung sau chắn bùn bánh trước bên phải xe ô tô biển số 67B-011.61 và gương chiếu hậu bên trái xe mô tô biển số 67F9-1598 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện, khi xe mô tô đang nghiêng trái.
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường khám nghiệm tử thi và kết luận giám định nguyên nhân tử vong của nạn nhân, kết luận giảm định của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, tài liệu chứng cử thu thập được là phù hợp. Vết hằn trượt xước của xe ô tô có chiều hướng từ trước ra sau, qua đó, xác định nguyên nhân xây ra vụ tai nạn là do lỗi của của Nguyễn Thanh Đ điều khiển xe ô tô khách biển số 67B-011.61 vượt lên xe mô tô biển số 67F9-1598 do ông Nguyễn Thành N1 điều khiển chở phía sau bà Bùi Thị L và cháu Đ1 Nguyễn Anh T trên cầu Ô có một làn xe là vi phạm điểm b khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ.
Đối với ông Nguyễn Thành N1 và cháu Đoàn Nguyễn Anh T bị thương nhẹ, không yêu cầu giám định thương tích. (BL: 123, 145-146)
Vật chứng thu giữ trả cho công ty trách nhiệm hữu hạn H1 01 xe ô tô hiệu UNIVERSE, số loại NGT, loại xe ô tô khách 29 chỗ ngồi biển kiểm soát 67B-011.61 màu sơn: trắng đen vàng dung tích 5200, số máy: 0G2HFAF00043, số khung: SWW3NGX000001, đã qua sử dụng và 01 giấy chứng kiểm định số 7573525; trà cho ông Nguyễn Thành N1 01 xe mô tô hiệu DIOAM, biển kiểm soát 67F9-1598, màu sơn nâu, dung tích 97, số máy 0010950, số khung: 0000428 đã qua sử dụng bị hư hỏng sau tai nạn; 01 giấy đăng ký xe mô tô số A0128175 tên Võ Văn T1, 01 giấy phép lái xe số AT984733 tên Nguyễn Thành N1, trả cho Nguyễn Thanh Đ 01 giấy phép lái xe hạng E số: [...]. (BL: 32, 164-165)
Tại bản án hình sự số 58/2024/HS – ST ngày 26/7/2024, Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ.
Xử phạt: Nguyễn Thanh Đ mức án 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 06/8/2024 bị cáo Nguyễn Thanh Đ kháng cáo xin được hưởng án treo do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bị cáo đang nuôi mẹ già và 02 con còn nhỏ; vợ bị cáo đang mang thai, không có nghề nghiệp ổn định.
* Tại phiên tòa:
- - Bị cáo vẫn giữ yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo do bị cáo là lao động chính trong gia đình, mẹ bị cáo bệnh không tạo ra thu nhập; các con bị cáo còn nhỏ; vợ bị cáo đang mang thai, không có nghề nghiệp ổn định.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà nhận định:
- Bị cáo là tài xế xe khách Hùng Cường chạy tuyến C - Cần Thơ. Ngày 18/5/2019 xe khách biển kiểm soát 67B-01161 do bị cáo điều khiển đã xảy ra va chạm với xe mô tô do ông Nguyễn Thành N1 điều khiển, hậu quả sau va chạm là bà Bùi Thị L (vợ của ông N1 – ngồi sau xe của ông N1). Kết quả điều tra xác định được nguyên nhân xảy ra va chạm là do bị cáo thiếu quan sát, vượt qua xe mô tô trên cầu Ô không đảm bảo khoảng cách an toàn. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo khoản 1 Điều 260 là đúng người, đúng tội.
Cấp sơ thẩm xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt là phù hợp. Trong giai đoạn sơ thẩm đại diện gia đình người bị hại có đơn xin bãi nại đối với bị cáo nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét đánh giá trong bản án. Tại giai đoạn phúc thẩm ông Nguyễn Thành N1 có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo; ngoài ra bị cáo có cung cấp đơn có xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo chấp hành tốt pháp luật và có đóng góp cho hoạt động xã hội ở địa phương nên đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điều 51 Bộ luật Hình sự; có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng, phạm tội với lỗi vô ý. Xét thấy bị cáo đủ điều kiện để được áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự và việc cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội không làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương nên đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Thanh Đ tại phiên tòa là phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản hiện trường, dấu vết để lại trên phương tiện giao thông và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể, ngày 18/5/2019 là tài xế của Công ty TNHH H1 điều khiển xe khách biển số 67B-01161 lưu thông từ T về B khi đến cầu Ô thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 67F9-1598 do ông Nguyễn Thành N1 điều khiển chở bà Bùi Thị L, sau va chạm bà Bùi Thị L tử vong. Tại Kết luận giám định số 135/KLGĐ-PC09 ngày 03/6/2019 của Phòng K Công an thành phố C đã xác định bà L tử vong do dập não và xuất huyết não, sau chấn thương sọ não nặng. Nhận thấy: Theo biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện cầu Ô có chiều ngang mặt cầu 9m, ở giữa có vạch dọc đơn màu trắng liền nét, chia mặt cầu làm 02 chiều đi và về, ở mỗi chiều đi, về có 01 làn xe với chiều ngang 4,5m; tuy nhiên, phía trước Cầu Ô không đặt biển báo cầu hẹp (BL 99 – 103), cấp sơ thẩm đánh giá Cầu Ô là cầu hẹp có 01 làn đường là chưa phù hợp. Vị trí xe mô tô biển số 67F9-1598 khi va chạm xe khách 67B-01161 cách lan can bên phải cầu 1,85m cho thấy khi lên cầu ông N1 không điều khiển xe mô tô chạy sát lề phải mà lấn sâu vào bên trong làn đường cùng chiều. Về phía bị cáo khai nhận sau khi va chạm bị cáo mới phát hiện có xe mô tô đang loạng choạng phía sau bên phải cho thấy bị cáo điều khiển xe khách nhưng thiếu quan sát không phát hiện xe mô tô đang đi song song cùng chiều nên khi vượt lên xe mô tô bị cáo đã không báo hiệu bằng đèn hoặc còi để ông N1 điều khiển xe mô tô tránh về bên phải.
Va chạm xảy ra có một phần lỗi của ông N1 do đã điều khiển xe mô tô (có vận tốc nhỏ hơn xe khách) trong làn xe hỗn hợp nhưng không đi sát vào lề phải nhưng lỗi chính là do bị cáo điều khiển xe khách thiếu quan sát, trước khi vượt xe không tuân thủ đầy đủ các quy định theo khoản 1, khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ, không đảm bảo khoảng cách an toàn, hậu quả làm bà L tử vong. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bị cáo đang nuôi mẹ già và 02 con còn nhỏ; vợ bị cáo đang mang thai, không có nghề nghiệp ổn định. Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của gia đình người bị hại và áp dụng Điều 54 quyết định hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ.
[3.2] Ở giai đoạn sơ thẩm, đại diện gia đình người bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo và trong giai đoạn xét xử phúc thẩm gia đình người bị hại tiếp tục gửi đơn xin xem xét cho bị cáo được hưởng án treo nên thống nhất với đề nghị của kiểm sát viên xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .
[3.3] Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội với lỗi vô ý, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã ân cần thăm hỏi cũng như lo các chi phí ma chay cho người bị hại, tích cực bồi thường tổn thất cho gia đình người bị hại và được gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho thấy bị cáo thực sự ăn năn hối cải và có trách nhiệm với hậu quả đã gây ra. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận gia đình bị cáo thuộc diện khó khăn, là lao động chính, có 02 con còn nhỏ, vợ bị cáo đang mang thai; mẹ và vợ bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định (BL 209), ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp ổn định, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên về việc chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2024/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 30/10/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.
4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bích Vân |
Bản án số 82/2024/HS-PT ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 82/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Đ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
