TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST Ngày 30 - 9 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Trường
Bà Phạm Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Nhung, là Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ công khai vụ án thụ lý số 81/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1995; Địa chỉ: Đ, thôn A, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1993; Nơi thường trú: Đ, thôn A, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Địa chỉ: Đài Loan “vắng mặt”
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Cháu Nguyễn Thu T, sinh ngày 18 tháng 3 năm 2015; “vắng mặt”
- Cháu Nguyễn Việt H1, sinh ngày 21 tháng 5 năm 2021; “vắng mặt”
Người giám hộ: Chị Trần Thị Thu H, là mẹ; Địa chỉ: Đ, thôn A, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”
- Người làm chứng:
- Bà Trần Thị S, sinh năm 1964; Địa chỉ: thôn A, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1963; Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 8 tháng 8 năm 2024, nguyên đơn chị Trần Thị Thu H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn X tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên ngày 27 tháng 02 năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại gia đình nhà anh X đến năm 2022 thì anh X đi lao động tại Đài Loan. Năm 2023 anh X về Việt Nam nghỉ phép rồi tiếp tục đi Đài Loan. Do không thống nhất với nhau về cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2022 không quan tâm chăm lo đến nhau. Vợ chồng không thể chung sống hạnh phúc được với nhau vì tình cảm không còn, chị và các con đã về nhà bố mẹ đẻ chị sống nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh X.
Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thu T, sinh ngày 18/3/2015 và Nguyễn Việt H1, sinh ngày 21/5/2021 đều đang sống cùng mẹ nên chị đề nghị được tiếp tục nuôi cả hai con sau khi ly hôn và không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, nghĩa vụ chung và các vấn đề khác và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Bị đơn anh Nguyễn Văn X công nhận lời khai của chị Trần Thị Thu H về thời gian đăng ký kết hôn, quá trình chung sống, con chung, tài sản, nghĩa vụ chung của vợ chồng và trình bày: Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022, không quan tâm đến nhau nên tình cảm không còn do đó anh nhất trí ly hôn với chị H và đồng ý để chị H nuôi hai con là Nguyễn Thu T, sinh ngày 18/3/2015 và Nguyễn Việt H1, sinh ngày 21/5/2021 sau khi ly hôn. Anh X đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và giao văn bản tố tụng cho mẹ anh là bà Trần Thị S.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Thu T, con anh Nguyễn Văn X, mẹ cháu là Trần Thị Thu H trình bày: Hiện nay cháu đang ở cùng mẹ, nếu bố mẹ ly hôn thì cháu muốn được tiếp tục ở cùng mẹ, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Người làm chứng bà Trần Thị S, mẹ anh Nguyễn Văn X trình bày: Anh Nguyễn Văn X và chị Trần Thị Thu H tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên năm 2014. Sau ngày cưới anh chị chung sống cùng gia đình bà đến năm 2022 thì anh X đi làm việc tại Đài Loan và có về Việt Nam năm 2023 khi nghỉ phép. Bà không biết về mâu thuẫn của các con nên anh chị chung sống được với nhau không là do vợ chồng tự quyết định. Con chung của anh X và chị H là Nguyễn Thu T, sinh ngày 18/3/2015 và Nguyễn Việt H1, sinh ngày 21/5/2021 đều đang sống cùng mẹ tại nhà bố mẹ chị H. Bà nhất trí nhận các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh X theo đề nghị của anh và cam đoan sẽ thông báo lại cho anh X.
Bà Nguyễn Thị D, mẹ chị Trần Thị Thu H trình bày: Chị H và anh Nguyễn Văn X đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên năm 2014 và chung sống cùng gia đình anh X từ khi kết hôn. Bà không biết về mâu thuẫn của chị H và anh X vì anh X đã đi làm việc tại Đài Loan từ năm 2022 chỉ một lần về Việt Nam nghỉ phép năm 2023 nên việc anh chị ly hôn hay chung
sống với nhau là do vợ chồng tự quyết định. Hai con chung của chị H và anh X là Nguyễn Thu T, sinh ngày 18/3/2015 và Nguyễn Việt H1, sinh ngày 21/5/2021 đều đang sống cùng mẹ. Bà không liên quan đến chị H và anh X về tài sản, nghĩa vụ nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Ủy ban nhân dân xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên cung cấp: Chị Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Văn X đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H ngày 27 tháng 02 năm 2014. Anh chị có hai con chung là Nguyễn Thu T, sinh ngày 18/3/2015 và Nguyễn Việt H1, sinh ngày 21/5/2021. Hiện nay anh X không có mặt tại địa phương nên đề nghị Tòa án làm rõ với gia đình hai bên về mâu thuẫn của anh chị và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Phòng Q, Công an tỉnh H cung cấp: Anh Nguyễn Văn X, sinh ngày 16/05/1993; số CCCD: [...]; Địa chỉ: Đ, A, H, thành phố H, Hưng Yên. Số hộ chiếu C9882071 đã xuất nhập cảnh nhiều lần, lần cuối xuất cảnh ngày 24/03/2024 qua cửa khẩu Sân bay quốc tế N.
Tại phiên tòa:
Các đương sự đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:
- Việc chấp hành pháp luật: Kể từ khi thụ ký vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, và các đương sự đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Các Điều 147, 228, 229 và Điều 238 BLTTDS. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của HĐTP TANDTC. Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử: Công nhận chị Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Văn X thuận tình ly hôn. Về con: Giao chị H nuôi con là Nguyễn Thu T, sinh ngày 18/3/2015 và Nguyễn Việt H1, sinh ngày 21/5/2021; ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu được cấp dưỡng nuôi con. Tài sản, nghĩa vụ chung và các vấn đề khác không đặt ra giải quyết. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H chịu toàn bộ án phí sơ thẩm ly hôn.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ, lời trình bầy của các đương sự, và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo công văn số 2206/PA08 ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Phòng Q Công an tỉnh H đã có căn cứ xác định anh Nguyễn Văn X đang sinh sống tại nước ngoài nên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp quy định tại Điều 35, và điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo Điều 228, Điều 229 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Chị Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Văn X tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên ngày 27 tháng 02 năm 2014 nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận. Lời khai của anh chị phù hợp với lời khai của người làm chứng đã có căn cứ xác định vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022, không còn quan tâm chăm lo đến nhau. Chị H đã cùng các con về nhà bố mẹ chị sống chứng tỏ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài anh X đồng ý ly hôn là phù hợp với thực tế hôn nhân của anh chị nên được chấp nhận.
[4] Quan điểm về con chung của chị Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Văn X là tự nguyện phù hợp với điều kiện thực tế trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và nguyện vọng của con chung nên sẽ giao chị H tiếp tục nuôi con là Nguyễn Thu T, sinh ngày 18/3/2015 và Nguyễn Việt H1, sinh ngày 21/5/2021. Chị H không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung, và các vấn đề khác: Chị Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Văn X đều không yêu cầu nên không giải quyết.
[6] Quan điểm chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm của chị Trần Thị Thu H là tự nguyện và phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 46, Điều 47, Điều 62 Bộ luật Dân sự. Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Công nhận sự thỏa thuận của chị Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Văn X:
- Quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Văn X thuận tình ly hôn.
- Con chung: Chị Trần Thị Thu H trực tiếp nuôi con chưa thành niên là Nguyễn Thu T, sinh ngày 18 tháng 3 năm 2015 và Nguyễn Việt H1, sinh ngày 21 tháng 5 năm 2021.
Công nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Thu H không yêu cầu anh Nguyễn Văn X cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Trên cơ sở lợi ích của con
chị Trần Thị Thu H có quyền yêu cầu thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.
Anh Nguyễn Văn X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh X lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Trần Thị Thu H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh X.
Chị Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Văn X hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Tài sản chung, nghĩa vụ chung, và các vấn đề khác: Không giải quyết.
- Án phí: Chị Trần Thị Thu H tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000005 ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên; Hoàn trả lại chị H số tiền chênh lệch 150.000 đồng.
- Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thu H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Anh Nguyễn Văn X được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quang Tú |
Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
