TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 7 - 2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền
- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
Ông Bùi Văn Hồng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 121/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 87/2024/QĐXX - ST ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nghiêm Sỹ H, sinh năm 1981; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố B, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991; Địa chỉ hiện nay: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án anh Nghiêm Sỹ H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nghiêm Sỹ H và chị Nguyễn Thị N đăng ký kết hôn ngày 24/6/2013 tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vì điều kiện kinh tế khó khăn nên anh H và chị N cùng đi lao động tại Đài Loan. Hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, công việc mỗi người ở một nơi nên không có điều kiện quan tâm chăm sóc nhau. Hiện tại hai vợ chồng không còn liên lạc với nhau, anh H xác định không còn tình cảm với chị N nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị N.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Nghiêm Gia H1, sinh ngày 29/12/2015 và Nghiêm Gia H2, sinh ngày 13/10/2017. Hiện nay hai con chung đang sống cùng với chị N và bà ngoại là bà Bùi Thị H3 (trước đây khi chị N chưa về nước thì con chung sống với bà ngoại). Khi ly hôn, anh H mong muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng. Tuy nhiên, nếu chị N có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung thì anh H cũng đồng ý, anh H không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án chị Nguyễn Thị N trình bày:
Về thời điểm, điều kiện kết hôn, hôn nhân hợp pháp và mâu thuẫn vợ chồng như anh H khai là đúng. Vợ chồng sống mỗi người một nơi, không có điều kiện để quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Anh H cũng đã có tình cảm riêng với người phụ nữ khác nên dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, nay anh H yêu cầu ly hôn thì chị N đồng ý ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Nghiêm Gia H1, sinh ngày 29/12/2015 và Nghiêm Gia H2, sinh ngày 13/10/2017. Nay hai cháu đang sống cùng với chị và bà ngoại (trước khi chị về nước thì các con chung sống cùng với bà ngoại). Khi ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 51; 56; 57; 81; 82; 83 123; 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 28; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên xử:
- Anh Nghiêm Sỹ H ly hôn với chị Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Nghiêm Gia H1, sinh ngày 29/12/2015 và Nghiêm Gia H2, sinh ngày 13/10/2017, nay đang sống cùng với chị N. Khi ly hôn, giao hai cháu Nghiêm Gia H1 và Nghiêm Gia H2 cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
- Về án phí: Áp dụng Điều 143; khoản 4 Điều 147; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc anh Nghiêm Sỹ H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại thời điểm thụ lý vụ án, chị Nguyễn Thị N đang sống và làm việc tại Đài Loan. Theo công văn số 627/PA08 - Đ1 ngày 02/7/2024 của Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công An tỉnh H thì chị Nguyễn Thị N đã xuất cảnh và nhập cảnh về nước lần cuối vào ngày 15/6/2024. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do điều kiện công việc nên anh H và chị N đều đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh H và chị N theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nghiêm Sỹ H và chị Nguyễn Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24/6/2013 tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị H4 là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, do điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình nên anh H và chị N cùng đi lao động tại Đài Loan. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian đến năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, công việc mỗi người ở một nơi nên không có điều kiện quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng trở nên xa cách. Anh H xác định không còn tình cảm với chị N, đời sống chung không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Chị N cũng thừa nguyên nhân mâu thuẫn như ý kiến của anh H, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên anh H xin ly hôn, chị đồng ý.
Xét thấy mục đích hôn nhân là xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, tiến bộ, vợ chồng phải tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân giữa anh H và chị N không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng. Hiện tại, các đương sự đều tự nhận thấy không còn tình cảm với nhau và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng nên đồng thuận ly hôn. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật. Vợ chồng sống mỗi người một nơi không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nghiêm Sỹ H.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là tên Nghiêm Gia H1, sinh ngày 29/12/2015 và Nghiêm Gia H2, sinh ngày 13/10/2017. Nay hai cháu đang sống cùng với chị N và bà ngoại (trước đây khi chị N chưa về nước thì các con chung sống cùng với bà ngoại). Chị N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Căn cứ vào bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 13/6/2024 của anh H, anh cũng thống nhất giao các con chung cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị có yêu cầu. Vì vậy, cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự là giao các con chung cho chị N được chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện hoàn cảnh của mỗi bên. Anh H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51; 56; 57; 81; 82; 83 123; 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 28; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nghiêm Sỹ H. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nghiêm Sỹ H được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.
2. Về con chung: Giao các con chung Nghiêm Gia H1, sinh ngày 29/12/2015 và Nghiêm Gia H2, sinh ngày 13/10/2017 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Nghiêm Sỹ H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Buộc anh Nghiêm Sỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh H đã nộp theo biên lai số 0000908 ngày 07/6/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |
Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nghiêm Sỹ H ly hôn với chị Nguyễn Thị N
