TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04/7/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Viện,
- Bà Nguyễn Thị Mai Hoa.
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- - Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá, tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hứa Thị Q, sinh năm: 1998 (Vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989 (Vắng mặt.)
Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường H, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Tổ dân phố L, phường H, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú hiện nay: Hàn Quốc
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Hứa Thị Q trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 01/8/2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm, mặc dù đã cố gắng nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Tháng 11/2022 thì anh L sang Hàn Quốc cư trú và làm việc. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn L có 02 con chung là cháu Nguyễn Hứa Minh K, sinh ngày 01/01/2017 và cháu Nguyễn Hứa Khánh M, sinh ngày 16/04/2019. Ly hôn chị Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Nguyễn Hứa Minh K và cháu Nguyễn Hứa Khánh M, không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ chung: Chị Hứa Thị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Hứa Thị Q trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh Nguyễn Văn L tại Hàn Quốc nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh Nguyễn Văn L vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình anh L, địa chỉ Tổ dân phố L, phường H, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin của anh Nguyễn Văn L từ bố mẹ đẻ anh L là ông Nguyễn Bá H và bà Phạm Thị T hoặc em gái anh L chị Nguyễn Diệu T1 địa chỉ Tổ dân phố L, phường H, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại các biên bản lấy lời khai, chị Nguyễn Diệu T1, đơn trình bày của ông Nguyễn Bá H và lời trình bày của bà Phạm Thị T tài phiên toà :
Ông Nguyễn Bá H và bà Phạm thị T2 là bố mẹ đẻ anh L và là bố mẹ chồng chị Hứa Thị Quỳnh. Năm 2016 anh L và chị Q kết hôn với nhau. Sau khi kết hôn vợ chồng anh L, chị Q sống hạnh phúc. Đến năm 2022 anh L đi Hàn Quốc làm ăn, gia đình không biết địa chỉ cụ thể của anh L ở Hàn Quốc nên không thể cung cấp cho Tòa án nhưng cà gia đình vẫn thường xuyên liên lạc với anh L nên gia đình đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh L. Chị Hứa Thị Q có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh Nguyễn Văn L. Quan điểm của gia đình anh L là không muốn anh L chị Q ly hôn. Vợ chồng anh L và chị Q có 02 con chung là cháu Nguyễn Hứa Minh K, sinh ngày 01/01/2017 và cháu Nguyễn Hứa Khánh M sinh ngày 16/04/2019. Ly hôn chị Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các cháu. Tuy nhiên gia đình anh L mong muốn gia đình được nuôi các cháu. Hiện nay cháu Nguyễn hứa Minh K1 vẫn ở với ông bà nội. Ông Nguyễn Bá H và bà Phạm Thị T và chị T1 thống nhất vợ chồng anh L và chị Q có tài sản chung và công nợ chung không thì gia đình không nắm được.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
- - Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân Gia đình.
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hứa Thị Quỳnh
Về hôn nhân: Xử cho chị Hứa Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Văn L
Về con: Chị Q và anh Nguyễn Văn L có 02 con chung là cháu Nguyễn Hứa Minh K, sinh ngày 01/01/2017 và cháu Nguyễn Hứa Khánh M, sinh ngày 16/04/2019. Ly hôn chị Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Nguyễn Hứa Minh K và cháu Nguyễn Hứa Khánh M, không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Do anh Nguyễn Văn L hiện nay đang sống
và làm việc tại Hàn Quốc, từ khi anh L đi Hàn Quốc đến nay, các cháu vẫn ở với chị Q và bố mẹ anh L, chị Q vẫn nuôi dưỡng chăm sóc các cháu chu đáo, qua tham khảo nguyện vọng của cháu K cháu mong muốn được ở với ông bà nội còn cháu M mong muốn được ở với mẹ. Do vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu các cháu nên giao cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Hứa Minh K, và cháu Nguyễn Hứa Khánh M. Về cấp dưỡng nuôi con chị Hứa Thị Q không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên chấp nhận. Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình
Về tài sản và công nợ chung: Chị Hứa Thị Q không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Chị Hứa Thị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Đ a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhận định:
[ 1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:
Bị đơn là anh Nguyễn Văn L trước đây có đăng ký HKTT tại phường H, thị xã N nhưng hiện nay đang sinh sống tại Hàn Quốc. Do trong vụ án có bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37, khỏn 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[ 1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:
Chị Hứa Thị Q chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Nguyễn văn L1 ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh L1 tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng ông H, bà T và chị T1 bố mẹ đẻ và em gái của anh L1 trình bày không biết địa chỉ của anh Nguyễn Văn L ở Hàn Quốc. Tuy anh L thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh L hiện nay ở nước ngoài. Gia đình anh L vẫn thường xuyên liên lạc với anh L nên đã nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho anh L .Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Hứa Thị Q có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là anh Nguyễn Văn L mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân: Căn cứ các BL: 03; 10; 22;23; 24; 26: Chị Hứa Thị Q và anh Nguyễn Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ( Uý ban nhân dân phường H, thị xã N) nên là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị Hứa Thị Q trình bày vợ chồng anh chị mâu thuẫn, không còn quan tâm đến nhau, vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã không liên hệ với nhau, xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Hứa Thị Q và anh Nguyễn Văn L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận cho chị Hứa Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Văn L.
[2.2]. Về con chung :Căn cứ các BL01; 02;10; 22;23; 24; 26; 27; 28; Chị Hứa Thị Q và anh Nguyễn Văn L có 02 con chung là cháu Nguyễn Hứa Minh K, sinh ngày 01/01/2017 và cháu Nguyễn Hứa Khánh M, sinh ngày 16/04/2019. Ly hôn chị Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Nguyễn Hứa Minh K và cháu Nguyễn Hứa Khánh M, không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Do anh Nguyễn Văn L hiện nay đang sống và làm việc tại Hàn Quốc, từ khi anh L đi Hàn Quốc đến nay, các cháu vẫn ở với chị Q và bố mẹ anh L, chị Q vẫn nuôi dưỡng chăm sóc các cháu chu đáo, qua tham khảo nguyện vọng của cháu K cháu mong muốn được ở với ông bà nội còn cháu M mong muốn được ở với mẹ. Do vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu các cháu nên giao cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Hứa Minh K, và cháu Nguyễn Hứa Khánh M.
Về cấp dưỡng nuôi con chị Hứa Thị Q không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên chấp nhận. Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình
[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Căn cứ cácBL: 10; 22;23; 24; 26 Về tài sản và công nợ chung: Chị Hứa Thị Q không yêu cầu, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị Hứa Thị Q là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Đ a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Q đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 40, Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hứa Thị Q
- - Về hôn nhân: Xử cho chị Hứa Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Văn L
- - Về con chung : Chị Hứa Thị Q và anh Nguyễn Văn L có 02 con chung là cháu Nguyễn Hứa Minh K, sinh ngày 01/01/2017 và cháu Nguyễn Hứa Khánh M, sinh ngày 16/04/2019. Ly hôn giao cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Nguyễn Hứa Minh K và cháu Nguyễn Hứa Khánh M cho đến khi các cháu thành niên..
- Về cấp dưỡng nuôi con chấp nhận sự tự nguyện của chị Hứa Thị Q không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con.
- Anh Nguyễn Văn L có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Hứa Thị Q không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Chị Hứa Thị Q phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng án phí chị Hứa Thị Q đã nộp theo biên lai thu số 0000 302 ngày 03/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị Q đã nộp đủ.
- Quyền kháng cáo:
Chị Hứa Thị Q có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật /.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nguyệt |
5
Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
- Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hứa Thị Q - Nguyễn Văn L "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"