|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/DS-ST
Ngày: 30/9/2024
V/v “Tranh chấp QSDĐ; Hủy Giấy CNQSDĐ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Danh
Ông Phan Tấn Ô
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáu, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2023/DSST ngày 07 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp QSD, hủy Giấy chứng nhận QSD đất,”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Thông báo về việc mở phiên tòa số 68/2024/TB-DS ngày 23 tháng 9 năm 2024; Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G (tên khác: H), sinh năm 1963; Địa chỉ: B T, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Phan Thị Yến N, sinh năm 1961; Địa chỉ: C T, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Bảo T, sinh năm 1986; Địa chỉ: 1 N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên;
- Ủy ban nhân dân phường B1, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P.
- Bà Hồ Phương U, sinh năm 1986, ông Lê Văn N1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ I, khu phố N, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Bà Hồ Nguyên Đ, sinh năm 1995, ông Lê Phú V, sinh năm 1995; Địa chỉ: C T, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hồ Phương U, ông Lê Văn N1, bà Hồ Nguyên Đ, ông Lê Phú V: Bà Phạm Bảo T, sinh năm 1986; Địa chỉ: 1 N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Bà T có mặt, những người khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/10/2022, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày:
Gia đình tôi có 01 thửa đất tại địa chỉ B T, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Ngày 05/11/1995, tôi và chồng cũ (tên Nguyễn Hoàng T1) có viết “Giấy bán đoạn nhà” với nội dung thỏa thuận: Vợ chồng tôi cắt một phần đất có căn nhà cấp 4 diện tích 4,5m x 6,5m = 29,25m² bán cho vợ chồng ông Hồ Đức H1, bà Phan Thị Yến N. Đến ngày 17/11/1995, hai bên lập Văn tự mua bán nhà được UBND phường B1, thành phố T chứng thực kèm họa đồ thể hiện phần diện tích nhà đất bán với kích thước như trên. Phần đất còn lại năm 2002 tôi xây dựng nhà ở ổn định từ đó đến nay. Khi xây cất nhà, tôi còn chừa lại một khoảng đất nhỏ hình tam giác nằm phía Đông nhà tôi và tiếp giáp với phần đất mà tôi đã bán cho vợ chồng ông H1, bà N vào năm 1995. Khi bán nhà cho bà N vào năm 1995 là nhà mái ngói, dừng bồ cót, có tường gạch xây dựng sẵn.
Diện tích đất trống giữa nhà tôi và nhà bà N có hình tam giác, cạnh đáy tiếp giáp vỉa hè đường T dài khoảng trên 20cm, sâu vào trong là đỉnh của tam giác là diện tích đất của nhà tôi. Từ trước đến nay tôi vẫn sử dụng phần diện tích đất này, phía trên còn lắp đặt đồng hồ điện và máng nước nhà tôi.
Thời gian gần đây, bà N nói phần đất trống này thuộc đất của bà đã được UBND thành phố T cấp Giấy CNQSDĐ số CA 369673 ngày 16/12/2016, bà N đưa tôi xem Giấy CN này và M trích đo tách thửa của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T ngày 21/01/2022 và không cho tôi sử dụng phần đất này.
Qua tìm hiểu, tôi được biết: Ngày 14/4/2022, Giấy CNQSDĐ số CA 369673 ngày 16/12/2016 đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T thu hồi, quản lý theo thủ tục đăng ký biến động đất đai do tách thửa. Cụ thể: Thửa 450, tờ bản đồ D4-III-A-a, diện tích 143,5m² đất ở đô thị theo Giấy CNQSDĐ số DD 863056 và thửa 451, tờ bản đồ D4-III-A-a, diện tích 108,5m² đất ở đô thị theo Giấy CNQSDĐ số DD 863057.
Đối với thửa 450, tờ bản đồ D4-III-A-a, diện tích 143,5m² đất ở đô thị theo Giấy CNQSDĐ số DD 863056 (có phần diện tích đất đang tranh chấp), bà N làm thủ tục tặng cho chung các con là vợ chồng Hồ Phương U, Lê Văn N1 và vợ chồng Hồ Nguyên Đ, Lê Phú V được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp 02 Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cùng ngày 27/9/2022: số DD 828378 cấp cho vợ chồng Hồ Phương U, Lê Văn N1, số DD 828379 cấp cho vợ chồng Hồ Nguyên Đ, Lê Phú V.
Tôi xác định khi UBND cấp sổ đỏ cho bà N đã đo chồng lên phần đất hình tam giác này của tôi mà tôi không biết. Do đó, tôi yêu cầu bà Phan Thị Yến N trả lại cho tôi diện tích đất hình tam giác nêu trên theo kết quả đo đạc của TAND tình Phú Yên là khoảng là 0,7m² thuộc thửa đất số 450, tờ bản đồ D4-III-A-a tại phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Hủy GCNQSDĐ số DD 828378 và số DD 828379 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp ngày 27/9/2022 cho vợ chồng Hồ Phương U, Lê Văn N1, vợ chồng Hồ Nguyên Đ, Lê Phú V”.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phan Thị Yến N cùng các con là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng Hồ Phương U, Lê Văn N1, vợ chồng Hồ Nguyên Đ, Lê Phú V thống nhất trình bày:
Nguyên trước đây vợ chồng tôi mua của người khác diện tích đất mặt tiền đường T khoảng 12m. Sau đó, năm 1995, chúng tôi mua của vợ chồng chị H (Gái) miếng đất rộng 4,5m, dài 6,5m. Đến năm 2014, chúng tôi được cấp Giấy CNQSDĐ số BĐ 824360 ngày 12/8/2014 thửa đất số 18, tờ bản đồ D4-III-A-a, diện tích 327,9m², có chiều rộng mặt tiền 15,8m. Ngày 16/12/2016, vợ chồng tôi tặng cho con Lê Doanh T2, Hồ Hoàng Y thửa đất theo Giấy CNQSDĐ số CA 369674 thửa đất số 412, tờ bản đồ D4-III-A-a, diện tích 75,90m². Phần diện tích mặt tiền còn lại 9,75m tôi tách thửa và cho 02 con Uyên, Đ.
Từ trước đến nay, giữa hai thửa đất có tường gạch xây sẵn, sau khi mua về, tôi vẫn giữ nguyên tường gạch cũ, tôi cứ nghĩ phần diện tích đất này là của chị G nên tôi có qua hỏi mua lại để đủ 10m, tách thửa cho 02 con nhưng chị G không bán. Tôi làm đơn yêu cầu Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T đo đạc lại thì mới biết phần diện tích đất này là của tôi. Khi tôi yêu cầu bà G phải tháo dỡ bức tường cũ để con tôi xây dựng nhà thì bà G tranh chấp, nay tôi khẳng định diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của tôi nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G.
Bà Phạm Bảo T đại diện theo ủy quyền của bà N, bà U, ông N1, bà Đ, ông V đề nghị bác toàn bộ yêu cầu của bà G vì từ trước năm 2006, ông Nguyễn Hoàng T1 (chồng bà G) đã ký xác nhận ranh giới, mốc giới, hình thể thửa đất đã bao gồm phần diện tích hình tam giác mà bà G tranh chấp. Thủ tục cấp Giấy CNQSDĐ cho vợ chồng bà N, ông H1, thủ tục nhập thửa, tách thửa cũng như thủ tục tặng cho QSDĐ là hoàn toàn đúng quy định pháp luật diễn ra công khai, ngay tình và trước khi bà G khởi kiện. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013, khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, yêu cầu của bà G không có căn cứ chấp nhận.
Quá trình giải quyết vụ án, UBND thành phố T, UBND phường B1, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P không có văn bản trình bày ý kiến. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T cung cấp các tài liệu liên quan đến QSDĐ các bên tranh chấp.
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người liên quan, bà Phạm Bảo T đề nghị HĐXX bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và HĐXX tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P, UBND thành phố T, UBND phường B1, thành phố T có văn bản đề nghị vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G khởi kiện yêu cầu công nhận QSDĐ và buộc bị đơn bà Phan Thị Yến N cùng các con trả lại QSDĐ, hủy Giấy CNQSDĐ do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp ngày 27/9/2022 cho vợ chồng Hồ Phương U, Lê Văn N1, vợ chồng Hồ Nguyên Đ, Lê Phú V do được bị đơn tặng cho QSDĐ. Do đó, quan hệ pháp luật là “Tranh chấp QSDĐ, hủy GCNQSDĐ”. Căn cứ Điều 26, 34, 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 32 Luật tố tụng hành chính năm 2015 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên có thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Về nguồn gốc của phần diện tích 0,7m² có hình thể tam giác tại Mảnh trích đo địa chính số 20-2024 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P thực hiện ngày 22/4/2024 nằm trong thửa đất số 450, tờ bản đồ D4-III-A-a tọa lạc tại đường T, khu phố D, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên các bên tranh chấp: Căn cứ các tài liệu do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T cung cấp, thấy rằng:
[3] Năm 1992, vợ chồng ông Hồ Đức H1, bà Phan Thị Yến N mua diện tích đất 120m², được Sở xây dựng tỉnh P cấp Giấy CNQSH nhà ngày 13/7/1992 sau đó được UBND thành phố T cấp Giấy CNQSDĐ số AC 828330 ngày 28/8/2006 thể hiện thửa đất số 18, tờ bản đồ D4-III-A-a, địa chỉ tại số C T, phường B, thành phố T, Phú Yên. Năm 1995, vợ chồng ông H1, bà N mua của vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Nguyễn Hoàng T1 diện tích đất 78m², thửa đất số 28, tờ bản đồ D4-III-A-a. Năm 2000, vợ chồng ông H1, bà N mua của bà Lê Thị T3 diện tích 112m², thửa đất số 28, tờ bản đồ D4-III-A-a.
[3] Quá trình sử dụng các thửa đất đã mua nêu trên, năm 2006, vợ chồng bà N làm đơn và được UBND thành phố T cấp Giấy CNQSDĐ số AG 781178 ngày 06/6/2007 đối với thửa 28, diện tích 207,9m², địa chỉ thửa đất tại số C T, phường B, thành phố T, Phú Yên. Tại sơ đồ thửa đất trang 3 Giấy CN: độ dài cạnh phía Bắc thửa đất là 5,5m, tiếp giáp cạnh phía Bắc của thửa đất số 18 có chiều dài 10m nên tổng chiều dài cạnh phía Bắc của thửa 18+28 là 15,5m. Tại BL123: Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 06/9/2006, ông T1 ký ranh giới cho ông H1 phần giáp Trần P không ghi kích thước cạnh nhưng ở BL124 trích lục bản đồ địa chính đã thể hiện 5,5m+10m; Tại BL122: Biên bản kiểm tra hiện trạng cũng ghi giáp Trần Phú 15,5m, đơn xin cấp GCN chỉ xin cấp thửa 28, diện tích 204,8m² nhưng được cấp 207,9m² (dư so với đơn cấp là 3,1m² mà không có xác nhận về lý do tăng). Tại BL114, ông H1 làm đơn xác nhận QSDĐ nêu mua của G, T1 78m² (ông T1 ký xác nhận ngày 28/7/2006), mua năm 2000 của bà T3 50m², mua năm 2001 của bà T3 nhà 50m² và đường luồng 12m² trong khi hồ sơ chỉ có giấy xin bán gửi UBND phường 2 ngày 09/3/2000 và giấy mua bán 02 bên ký ngày 10/3/2000 giữa bà T3, ông H1 chỉ bán phần nhà 50m² và đường luồng 12m² nhưng bà T3 ký xác nhận cho ông H1. Tại phiên tòa bà G khẳng định, vợ chồng bà chỉ có nhà ở trên diện tích đất 152m², bán cho vợ chồng ông H1, bà N một phần nhà ở 4,5m x 6,5m = 29,25m², phía sau nhà bán đã giáp đất của bà T3, không có đất để bán 78m². Lý do Giấy CNQSDĐ số BĐ 822092 do UBND thành phố T cấp ngày 25/11/2013 cho bà G diện tích 106,2m² với bề ngang giáp Trần P chỉ có 4,5m là do quá trình sử dụng đất sau khi bán phần nhà này, phần mặt tiền đường T bà còn 5m nhưng khi đăng ký cấp GCN vào năm 2013 bà chừa lại phần bề ngang này để thửa đất ngay thẳng hợp phong thủy nhưng bà không từ bỏ quyền sử dụng đối với phần đất hình tam giác này mà khi xây lại nhà đã làm 01 máng nước, gắn đồng hồ điện, bà chỉ tranh chấp phần diện tích 0,7m² (hình tam giác giáp đường T), không tranh chấp đối với diện tích ghi bán 78m² nhưng đề nghị làm rõ sự sai phạm trong việc cấp Giấy CNQSDĐ cho bà N cấp chồng phần diện tích 0,7m² của bà vào thửa 450.
[4] Năm 2014, vợ chồng bà N làm thủ tục nhập thửa 18 và 28 thành thửa 18 và được UBND thành phố T cấp Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 824360 ngày 12/8/2014 diện tích đất 327,9m², địa chỉ thửa đất tại số C + C T, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Tại sơ đồ thửa đất trang 3 Giấy chứng nhận: độ dài cạnh phía Bắc thửa đất là (4,8m + 4,95m+ 6,05m) = 15,8m. Ngày 05/9/2016, được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp lại Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 615054 do nhận thừa kế (phần diện tích 163,95m² được công nhận và nhận thừa kế phần diện tích 163,95m²). Tại sơ đồ thửa đất trang 3 Giấy chứng nhận: độ dài cạnh phía Bắc thửa đất là 15,8m (từ điểm 12-1: 4,8m, từ điểm 1-2-2: 4,95m + 6,05m). Tại BL84: Biên bản thẩm tra hồ sơ xin tách thửa ngày 25/11/2016 ghi phía Tây giáp thửa 388 là đã đo giáp tường nhà của bà G, nên phần bề ngang tăng 0,3m không có xác nhận của chủ sử dụng đất liền kề về lý do tăng.
[5] Ngày 02/12/2016, bà N có yêu cầu tách thửa đất số 18, tờ bản đồ số D4-III-A-a thành 02 thửa, đến ngày 16/12/2016 bà N được UBND thành phố T cấp GCNQSDĐ số CA 369673 thửa 411 diện tích 252m² và GCNQSDĐ số 369674 thửa 412 diện tích 75,9m².
[6] Năm 2022, thửa đất 411 được tách thành 02 thửa: thửa 450 diện tích 143,5m² và thửa 451 diện tích 108,5m², ngày 14/4/2022, bà N được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp 02 Giấy CNQSDĐ số DD 863056 và số DD 863057.
[7] Ngày 23/8/2022, bà N tiến hành thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà cho các con: Vợ chồng Hồ Phương U, Lê Văn N1, vợ chồng Hồ Nguyên Đ, Lê Phú V đối với thửa 450. Ngày 27/9/2022, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P đã cấp 02 Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 828378 cấp cho vợ chồng Hồ Phương U, Lê Văn N1, số DD 828379 cấp cho vợ chồng Hồ Nguyên Đ, Lê Phú V.
[8] Như vậy, vào năm 2014, khi tiến hành nhập 02 thửa đất số 18 và 28 thành thửa 18, kích thước cạnh phía Bắc tăng từ 15,5m lên 15,8m, phần chênh lệch tăng 0,3m phía tiếp giáp thửa đất số 388, tờ bản đồ số D4-III-A-a của bà G, qua đối chiếu mặt bằng bản vẽ hiện trạng nhà đất và Giấy bán đoạn nhà ngày 05/11/1995, Văn tự mua bán nhà ngày 08/11/1995 thì vợ chồng bà G, ông T1 bán cho vợ chồng bà N, ông H1 diện tích 4,5mx6,5m = 29,25m² nhưng hồ sơ thu thập tại Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T có đơn xin bán và mua nhà ngày 08/11/1995 ghi đất chuyển nhượng diện tích 78m². Tại BL từ 108-131: Hồ sơ cấp GCNQSDĐ số AC 828330 ngày 28/8/2006 đối với thửa đất số 18 diện tích 120m² địa chỉ C T và số AG 781178 ngày 06/6/2007 đối với thửa 28, diện tích 207,9m², địa chỉ thửa đất tại số C T, phường B, thành phố T, Phú Yên: Tại Đơn xin cấp Giấy CNQSDĐ đề ngày 02/8/2006 (BL128), ngày 28/7/2006 (BL121): nộp kèm Văn tự mua bán nhà của ông Nguyễn Hoàng T1 năm 1995 diện tích 78m² và Giấy bán 01 đoạn nhà của bà Lê Thị T3 năm 2000 – 2001 diện tích 112m². Tại BL120: đơn xin bán và mua nhà (Nguyễn Hoàng T1, Nguyễn Thị G, HKTT: số nhà A L, phường B) ghi: có đứng nghiệp chủ 01 ngôi nhà thuộc tổ dân phố A phường B (nhà A L) xây trên lô đất tư diện tích đất 78m², diện tích cất 78m², diện tích sử dụng 29,25m², xin bán 01 phần nhà để trả nợ và làm vốn mua bán giá bán 15.000.000đ; Văn tự mua bán nhà ngày 17/11/1995: bán 01 phần nhà 13/14 Lê Trung K có diện tích đất 78m², diện tích xây cất 29,25m², diện tích sử dụng chính 29,25m², diện tích sử dụng phụ 48,75m² có giới cận: Đông giáp số nhà C đường T, Tây giáp số nhà A L, Nam giáp công trình phụ của bà Lê Thị T3, B giáp đường T. Theo Giấy chứng nhận QSH nhà số A quyển số 18 CNSH do Sở xây dựng tỉnh P cấp ngày 20/10/1993 cho vợ chồng ông T1, bà G nhà 13/14 Lê Trung K có diện tích đất 142,3m², sử dụng chính 22,8m² (BL111). Tại BL33: Giấy bán đoạn nhà ngày 05/11/1995: mua bán đoạn nhà 4,5m x 6,5m = 29,25m² nền nhà lót gạch, vách dừng bồ cót, lợp ngói số tiền 15.000.000đ, tại mục 2 trách nhiệm bên bán là cắt giao lại mặt bằng 29,25m². Tại BL28 có sơ đồ vị trí nhà đất bán, ngang Trần P: 9,5m, bán 4,5m còn 5m. Như vậy lời trình bày của bà G tại phiên tòa là có căn cứ, ông T1, bà G chỉ bán 01 phần nhà trên diện tích đất 29,25m², phần phía sau nhà bán này đã giáp công trình phụ của bà T3 nên không có diện tích đất 78m² để bán. Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/3/2024: đất tranh chấp có giới cận: Đông giáp đất Hồ Phương U, Lê Văn N1, Hồ Nguyên Đ, Lê Phú V, Tây giáp nhà bà Nguyễn Thị G, B giáp đường T, Nam giáp đất của U, N1, Đ, V.Tài sản trên đất có nền móng nhà, trên không gian đất tranh chấp có 01 máng nước, đồng hồ điện của bà G, 01 phần chái tôn của U. Theo mảnh trích đo địa chính số 20-2024: đất bên bà G chưa tính diện tích tranh chấp là 111,0m² + tranh chấp 0,7m² = 111,7m² dư so với GCN 5,5m² nhưng cộng thêm phần đã bán 29,25m² = 140,95m² so với 142,3m² đất theo chứng nhận QSH nhà số A năm 1993 thì vẫn bị thiếu. Đối chiếu phần đất tranh chấp: cạnh 1-2: 4,65m (GCN: 4,5m) vẫn thiếu so với đất ban đầu 5m – 4,65=0,35, quá trình giải quyết vụ án, bà N cũng có lời trình bày “Từ trước đến nay, giữa hai thửa đất có tường gạch xây sẵn, sau khi mua về, tôi vẫn giữ nguyên tường gạch cũ, tôi cứ nghĩ phần diện tích đất này là của chị G nên tôi có qua hỏi mua lại để đủ 10m, tách thửa cho 02 con nhưng chị G không bán”, nên phần tranh chấp cạnh 2-8: 0,38m thuộc quyền sử dụng của bà G là có căn cứ. Thủ tục cấp Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 824360 ngày 12/8/2014 sau khi nhập thửa 18+28 không đúng về diện tích đất dẫn đến các thủ tục tách thửa, tặng cho QSDĐ của bà Phan Thị Yến N không đúng diện tích đất.
[9] Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G, công nhận bà G được quyền sử dụng diện tích đất 0,7m² thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính số 20-2024 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P thực hiện ngày 22/4/2024; Hủ 02 Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp cùng ngày 27/9/2022: số DD 828378 cấp cho vợ chồng Hồ Phương U, Lê Văn N1, số DD 828379 cấp cho vợ chồng Hồ Nguyên Đ, Lê Phú V đối với phần diện tích 0,7m2 nằm trong tổng diện tích đất thửa 450, tờ bản đồ số D4-III-A-a; Buộc bà N cùng các con vợ chồng Hồ Phương U, Lê Văn N1, vợ chồng Hồ Nguyên Đ, Lê Phú V trả lại cho bà G phần diện tích 0,7m² nêu trên. Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký cấp lại Giấy CNQSDĐ đúng diện tích đất thuộc quyền sử dụng của mình.
[10] Về án phí: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
[11] Về chi phí tố tụng số tiền 14.000.000đ: Bị đơn bà N phải chịu, bà G đã nộp tạm ứng nên bà N phải hoàn lại cho bà G số tiền trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 34, 37,227, 228, 147, 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng các Điều 163, 166 Bộ luật dân sự 2015; Điều 100, 106, 168, 169, 203 Luật đất đai 2013; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G, công nhận bà G được quyền sử dụng diện tích đất 0,7m² thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính số 20-2024 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P thực hiện ngày 22/4/2024;
- Hủy 02 Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp cùng ngày 27/9/2022: số DD 828378 cấp cho vợ chồng Hồ Phương U, Lê Văn N1, số DD 828379 cấp cho vợ chồng Hồ Nguyên Đ, Lê Phú V đối với phần diện tích 0,7m² nằm trong tổng diện tích đất thửa 450, tờ bản đồ số D4-III-A-a;
- Buộc bà Phan Thị Yến N cùng vợ chồng Hồ Phương U, Lê Văn N1, vợ chồng Hồ Nguyên Đ, Lê Phú V trả lại cho bà Nguyễn Thị G phần diện tích 0,7m² nêu trên.
Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký cấp lại Giấy CNQSDĐ đúng diện tích đất thuộc quyền sử dụng của mình.
- Về án phí: Bị đơn Phan Thị Yến N phải chịu 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. H2 lại cho bà Nguyễn Thị G số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0007635 ngày 10/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Về chi phí tố tụng: bà Phan Thị Yến N hoàn lại cho bà Nguyễn Thị G 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Ngọc Hà |
Bản án số 82/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp qsdđ; hủy giấy cnqsdđ
- Số bản án: 82/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSDĐ; Hủy Giấy CNQSDĐ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nđ yc bị đơn trả đát
