TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/DS-ST Ngày: 24 - 6 - 2024 |
|
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Tuyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Kim Son
2. Ông Phan Thanh Dũng
- Thư ký Tòa án – Ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Võ Tường Vy
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên toà:
Ông Phạm Văn T – Kiểm sát viên
Trong ngày 18 và ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2023/TLST- DS ngày 04 tháng 6 năm 2023, về: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968. (Có mặt)
Địa chỉ: Số D đường C phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ liên lạc: Số A, khu D Viện lúa Đồng Bằng Sông C - xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964. (Có mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Bà Nguyễn Thị L ủy quyền cho ông Đặng Văn T1, sinh năm 1980. Khu vực H, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Theo văn bản uỷ quyền ngày 30 tháng 10 năm 2023.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Phan Hoàng P, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Số C K, tổ E, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Ông Phan Hoàng P uỷ quyền cho ông Mai Công N1, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số F đường B khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Theo văn bản uỷ quyền ngày 20/02/2024. (Có mặt)
2/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977. (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
3/ Ông Nguyễn Phúc T2, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1979 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
4/ Ông Trần Tấn T3. (Xin xét xử vắng mặt)
5/ Bà Nguyễn Thị Ngọc H1. (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Cùng trú tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
6/ Bà Trần Thị Thu T4, sinh năm 1984 (Xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
7/ Ông Lê Hoàng K, sinh năm 1962. (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
8/ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T.
Địa chỉ: Khu H - ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Đại diện: Ông Huỳnh Quốc K1; Chức vụ: Phó Giám đốc. (Xin xét xử vắng mặt)
9/ Văn phòng C. (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Quốc lộ I, khu vực H, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Đại diện: Bà Lê Thị Thu H2- Trưởng Văn phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị N yêu cầu bà Nguyễn Thị L trả lại diện tích 6.415,0 m² đất trồng lúa, thuộc thửa 523 tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà có mua (nhận chuyển nhượng) thửa đất số 523 tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ có diện tích 6.415 m², đất chuyên trồng lúa nước, thời hạn sử dụng đất đến năm 2065, hợp đồng mua bán đất này từ bà Nguyễn Thị H ngụ ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ sang nhượng cho bà tại Văn phòng C1 tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Làm thủ tục chuyển nhượng, mọi thủ tục đều đúng theo quy định của pháp luật và không có tranh chấp gì nên bà đã làm thủ tục sang tên cho bà là Nguyễn Thị N vào ngày 05/02/2021 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T chỉnh lý cho bà đứng tên tại thửa đất này. Sau khi được cấp giấy chứng nhận và vụ mùa đã đến thì bà và bà Nguyễn Thị L1 đến thăm ruộng và lên kế hoạch trồng lúa thì bà L ra ngăn cản không cho bà canh tác nên phát sinh tranh chấp.
Bị đơn – Bà Nguyễn Thị L trình bày: Trước đây chồng bà là Trần Quốc T5, sinh năm 1955 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 523, tờ bản đồ số 6, diện tích 6.415 m² tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Năm 2013 ông T5 chết, do gia cảnh khó khăn nên vào ngày 16/5/2016 bà có hợp đồng thỏa thuận vay thế chấp quyền sử dụng đất ruộng nói trên cho ông Nguyễn Phúc T2 sinh năm 1979 địa chỉ tại xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang với số tiền là 120.000.000 đồng với lãi suất là 1,5%/tháng. Khi đó, bà đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) do chồng bà đứng tên cho ông Nguyễn Phúc T2 cất giữ, để đảm bảo cho thực hiện nghĩa vụ khoản vay. Sau đó, bà nhận 120.000.000 đồng chia ra 3 lần nhận. Cụ thể: Lần thứ nhất: 50.000.000 đồng, lần thứ 2: 50.000.000 đồng, lần thứ 3: 20.000.000 đồng. Bà chỉ đóng lãi cho ông T2 được 1 lần với số tiền 6.000.000 đồng thì không đóng nữa và không gặp ông T2 cho đến nay. Đến tháng 2 năm 2023 bà N đến tranh chấp với bà cho đến nay. Phần đất tại thửa 523 vào năm 2019 bà có cố cho ông Trần Tấn T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 cư ngụ tại ấp Đ, xã Đ, huyện T với số vàng 52 chỉ vàng 24 kara, có làm hợp đồng cố đất đề ngày 16/8/2019. Thỏa thuận thời hạn 3 năm, nếu không chuộc thì bên nhận cố tiếp tục canh tác. Khi cố đất thì ông T3 và bà H1 có lên bờ để làm rẫy, sau nay đã bang ra để làm ruộng. Đến nay bà chưa chuộc lại phần đất cố này. Bà với ông Trần Quốc T5 chấp nối để chung sống vào năm 2011 không có đăng ký kết hôn và cũng không có con chung, ông T5 chết năm 2013, cha mẹ ông T5 cũng đã chết, ông T5 chỉ có 01 người con nuôi tên Trần Thị Thu T4 cư ngụ tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Bà và ông T5 cùng canh tác thửa đất 523 từ năm 2011, không có ai tranh chấp cho đến đầu năm 2023 bà N tranh chấp với bà. Việc bà vay tiền của ông T2 thì bà có thế chấp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2 giữ, còn việc bà có ký hợp đồng ủy quyền hay giấy tờ gì khác cho ông T2 không thì bà không biết, do bà ít hiểu biết nên thủ tục đều do ông T2 làm.
Nay bà xác định có yêu cầu phản tố để yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị N, cấp cho ông Phan Hoàng P và bà Nguyễn Thị H. Bà đồng ý trả cho ông Nguyễn Phúc T2 số tiền 120.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Văn phòng C có văn bản nêu ý kiến:
+ Ngày 29/01/2016 Văn phòng C (nay là Văn phòng C2), thành phố Cần Thơ có tiếp nhận yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền công chứng số 314, quyển số 01/2016/TP/CC-SCC-HĐUQ của ông Trần Quốc T5 và ông Nguyễn Phúc T2. Sau khi tiếp nhận và thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, công chứng viên đã giải thích quyền và nghĩa vụ của những ai tham gia. Việc công chứng trường hợp trên công chứng viên xác định các bên tham gia và yêu cầu công chứng văn bản nêu trên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BĐ 554619 số vào sổ CH00497 thửa đất số 523, tờ bản đồ số 6. Những người tham gia đã đọc lại hợp đồng ủy quyền, đồng ý nên việc các bên tham gia ký vào hợp đồng ủy quyền nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật dân sự, Luật đất đai, tuân thủ đúng việc thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng giao dịch, bản dịch quy định cụ thể của luật công chứng năm 2014. Nội dung của hợp đồng ủy quyền không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Vào ngày 16/5/2016 Văn phòng C (nay là Văn phòng C2), thành phố Cần Thơ có tiếp nhận yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền công chứng số 1279, quyển số 02/2016/TP/CC-SCC-HĐGD giữa ông Trần Quốc T5 (ông Nguyễn Phúc T2 đại diện ủy quyền) với ông Phan Hoàng P đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 554619 số vào sổ CH00497 thửa đất số 523, tờ bản đồ số 6. Sau khi tiếp nhận và thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, công chứng viên đã giải thích quyền và nghĩa vụ của những ai tham gia. Việc công chứng trường hợp trên công chứng viên xác định các bên tham gia giao dịch và yêu cầu công chứng văn bản nêu trên theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các thông tin cá nhân mà bên A và bên B đã cung cấp đầy đủ; dự thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất các bên đọc lại, đồng ý nên việc tham gia ký/điểm chỉ vào hợp đồng chuyển nhượng nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật dân sự, Luật đất đai, tuân thủ đúng việc thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng giao dịch, bản dịch quy định cụ thể của luật công chứng năm 2014. Nội dung của hợp đồng ủy quyền không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Vào ngày 18/5/2016 Văn phòng C (nay là Văn phòng C2), thành phố Cần Thơ có tiếp nhận yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền công chứng số 1299, quyển số 02/2016/TP/CC-SCC-QUQ giữa ông Phan Hoàng P với ông Lê Hoàng K đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1279, quyển số 02/2016/TP/CC-SCC/HĐGD do ông Phan Hoàng P nhận chuyển nhượng từ ông Trần Quốc T5 (có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Phúc T2). Sau khi tiếp nhận và thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, công chứng viên đã giải thích quyền và nghĩa vụ của những ai tham gia. Việc công chứng trường hợp trên công chứng viên xác định các bên tham gia giao dịch và yêu cầu công chứng văn bản nêu trên theo các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1279, quyển số 02/2016/TP/CC-SCC/HĐGD và các thông tin mà bên A và bên B cung cấp đầy đủ; dự thảo giấy ủy quyền các bên đọc lại các bên đọc lại, đồng ý nên việc tham gia ký/ điểm chỉ vào giấy ủy quyền nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật dân sự, luật đất đai, tuân thủ đúng việc thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng giao dịch, bản dịch quy định cụ thể của luật công chứng năm 2014. Nội dung của hợp đồng ủy quyền không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Bà Nguyễn Thị Ngọc H1 (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án) có lời khai: Năm 2015 vợ chồng bà có nhận cố đất của bà Nguyễn Thị L diện tích đất là 5 công với số vàng là 52 chỉ vàng 24 kara thời hạn cố là 3 năm, hết thời hạn hợp đồng bà L không có tiền chuộc nên bà canh tác đất đến nay. Nay bà và bà L tự thoả thuận riêng.
Đối với ông Lê Hoàng K, ông Nguyễn Phúc T2 và bà Nguyễn Thị H không có mặt theo thông báo và triệu tập của Tòa án, không gửi văn bản nêu ý kiến nên không có lời khai. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T không có văn bản nêu ý kiến.
Ông Mai Công N1 là đại diện theo uỷ quyền của ông Phan Hoàng P trình bày: Ông P không có yêu cầu độc lập trong vụ án. Đối với tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
+ Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của đương sự trong vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị L thừa nhận ngày 16/5/2016 có vay của ông Nguyễn Phúc T2 số tiền 120.000.000 đồng và có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 523, chủ sử dụng là ông Trần Quốc T5, việc bà thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T5 khi chưa có sự đồng ý của bà T4 (con ông T5 - hàng thừa kế thứ nhất của ông T5). Mặt khác, ngày 08/5/2013 ông Trần Quốc T5 chết (theo giấy chứng tử số 26/2013; quyển số 01/2013 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ). Đối chiếu với hợp đồng ủy quyền ngày 29/01/2016, giữa ông Trần Quốc T5 và ông Nguyễn Phúc T2 (nội dung ủy quyền là ông T5 ủy quyền cho ông T2 được toàn quyền định thay mặt ông T5 thực hiện các giao dịch...), được công chứng số 314, quyển số 01/2016/TP-SCC-HĐUQ được lập tại Văn phòng C (nay là văn phòng C2), tại thời điểm này, ông Trần Quốc T5 đã chết (chết ngày 08/5/2013). Đối chiếu với việc bà L vay tiền của ông T2 và có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T5; thời điểm ông T5 ký hợp đồng ủy quyền cho ông T2 được thay mặt ông thực hiện các giao dịch đối với thửa đất số 523, tờ bản đồ số 06, diện tích 6.415m², tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ, ông Trần Quốc T5 không thể ký được hợp đồng ủy quyền trên nên hợp đồng ủy quyền nêu trên bị vô hiệu. Do hợp đồng ủy quyền giữa ông T5 và ông T2 bị vô hiệu nên dẫn đến các hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu theo.
Việc bà Nguyễn Thị N nhận chuyển nhượng thửa đất 523 từ bà Nguyễn Thị H, khi chuyển nhận chuyển nhượng bà N không xem xét thực địa vị trí thửa đất có tranh chấp hay không. Thời điểm bà N nhận chuyển nhượng và đến thời điểm hiện tại bà L đã cố cho vợ chồng ông T3 và bà H1 nên việc bà N cho rằng khi nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị H thửa 523 không có tranh chấp là không đúng. Hơn nữa, như nhận định trên, do hợp đồng ủy quyền giữa ông T5 cho ông T2 bị vô hiệu nên kéo theo hợp đồng chuyển nhượng giữa bà N và bà H cũng vô hiệu theo. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà N là không có cơ sở chấp nhận.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Trần Tấn T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1, do ông bà không nộp tạm ứng án phí theo quy định nên không đặt ra xem xét. Dành cho ông, bà quyền khởi kiện đối với bà Nguyễn Thị L về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất khi có yêu cầu.
Đối với bà Trần Thị Thu T4 (là con ông Trần Quốc T5), thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T5 và bà H, mặt dù, đã được tòa án triệu tập với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng bà T4 không có ý kiến và xin xét xử vắng mặt. Do đó, cần dành quyền khởi kiện cho bà T4 thành vụ án khác khi có yêu cầu.
Từ các căn cứ có trong hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ là các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; lời khai của nguyên đơn, bị đơn và lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác, đối chiếu với các quy định của pháp luật, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không có cơ sở để chấp nhận; Dành quyền khởi kiện cho Nguyễn Thị N; Trần Tấn T3, Nguyễn Thị Ngọc H1; Trần Thị Thu T4; Nguyễn Thị H; Phan Hoàng P; Nguyễn Phúc T2 thành vụ kiện khác khi các đương sự có yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng: Điều 6; Khoản 9 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39, 262 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 100; Điều 104; Điều 105 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Kiến nghị Tòa án khắc phục việc chậm đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, Văn phòng C, ông Trần Tấn T3, bà Nguyễn Thị Ngọc H1, bà Trần Thị Thu T4 xin xét xử vắng mặt; Ông Lê Hoàng K. Bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Phúc T2 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 mặc dù đã được triệu tập xét xử hợp lệ; Tòa án căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt là phù hợp.
[2] Theo đơn khởi kiện và yêu cầu của đương sự tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
[3] Qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa thể hiện phần đất tranh chấp có diện tích theo đo đạc thực tế là 5.420,7 m² thuộc thửa 523, tờ bản đồ 06, loại đất LUC, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ hiện nay do bà Nguyễn Thị N đứng tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS 02933 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố C cấp ngày 09 tháng 3 năm 2021. Nay phía nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị L trả lại diện tích 6.415 m² thuộc thửa 523 cho phía nguyên đơn. Vấn đề này Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo bản sao giấy chứng tử do Ủy ban nhân dân xã Đ ghi nhận ông Trần Quốc T5 chết vào ngày 08 tháng 5 năm 2013 nhưng ngày 29/01/2016 Văn phòng C có công chứng hợp đồng uỷ quyền giữa ông Trần Quốc T5 với ông Nguyễn Phúc T2 để uỷ quyền việc thế chấp ngân hàng, chuyển nhượng, cho thuê, ký kết các hợp đồng giao dịch liên quan đến thế chấp, chuyển nhượng, cho thuê (bao gồm đăng ký thế chấp, ký kết hợp đồng tín dụng, liên hệ cơ quan chức năng nộp các khoản thuế, phí đối với các loại giao dịch nêu trên) đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00497 ký ngày 08/6/2011 thửa đất 523, tờ bản đồ số 6, diện tích 6.415 m² toạ lạc tai ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Xét về mặt thời gian và tính hợp lý thì ông Trần Quốc T5 đã chết vào ngày 08/5/2013 nên không thể xác lập hợp đồng uỷ quyền vào ngày 29/01/2016 được. Do đó, cần tuyên vô hiệu đối với hợp đồng uỷ quyền số công chứng số 314 ngày 29/01/2016 được Công chứng tại Văn phòng C. Do hợp đồng uỷ quyền số 314 ngày 29/01/2016 bị vô hiệu nên kéo theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/5/2016 được xác lập giữa ông Nguyễn Phúc T2 với ông Phan Hoàng P là vô hiệu.
[3.1] Ông Trần Quốc T5 có vợ là bà Phạm Thị H3 (chết vào năm 2004), ông Trần Quốc T5 có 01 người con nuôi là Trần Thị Thu T4 (là hàng thừa kế thứ nhất và duy nhất còn lại của ông T5). Vào năm 2011 ông T5 chung sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thị L nhưng không có đăng ký kết hôn, không có con chung. Bà L không được xem là vợ hợp pháp của ông T5 theo quy định của pháp luật nên không được tính là hàng thừa kế của ông T5 cũng không có quyền định đoạt tài sản là quyền sử dụng đất của ông T5 tại thửa đất số 523. Bà L có trình bày yêu cầu phản tố nhưng không nộp đơn yêu cầu phản tố, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bà là xác định phía bà là không có đơn phản tố xem như không có phản tố, khi nào con của ông T5 có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác nên xem như không có phản tố nên Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu của bà L.
[3.2] Ngày 16/5/2016 là ngày ông Nguyễn Phúc T2 (đại diện theo uỷ quyền ông Trần Quốc T5) ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Phan Hoàng P cũng là trùng với ngày, tháng, năm bà Nguyễn Thị L ký hợp đồng vay tiền với ông Nguyễn Phúc T2, theo đó bà L nhận vay tổng cộng là 120.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng (từ ngày 16/5/2016 đến 16/5/2021), lãi suất 1,5 %/tháng. Tuy nhiên, đối với ông Nguyễn Phúc T2 thì toà án không làm việc được với ông, ông T2 cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đến Toà án nhân dân huyện Thới Lai nên không xác định được có yêu cầu độc lập trong vụ án hay không. Bà Nguyễn Thị L có ý kiến đồng ý trả lại số tiền vốn vay và lãi suất theo quy định. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này mà cần dành cho ông T2 một vụ án dân sự khác nếu có.
[3.3] Bà Trần Thị Thu T4 được bà L thừa nhận là con nuôi của ông Trần Quốc T5, là hàng thừa kế thứ nhất và duy nhất của ông T5 nhưng bà T4 không có yêu cầu độc lập trong vụ án này để tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất cũng như yêu cầu huỷ các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng như xem xét tính pháp lý của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị N tại thửa đất số 523 nên Hội đồng xét xử không xem xét mà dành cho bà T4 một vụ kiện dân sự khác (nếu có).
[4] Từ những phân tích như đã nêu trên, không đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị L trả lại đất tại thửa 523.
[5] Về xử lý hậu quả của hợp đồng uỷ quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì do bà Nguyễn Thị L không phải là người ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bà L cũng không đủ tư cách về chủ thể để giao dịch tại thửa đất số 523 nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[6] Phía ông Trần Tấn T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 có đơn yêu cầu độc lập nhưng không nộp tiền tạm ứng án phí theo thông báo của Toà án nên không xem xét yêu cầu độc lập của ông T3 và bà H1 mà dành cho ông T3 và bà H1 một vụ kiện dân sự khác với bà L.
[7] Đối với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phan Hoàng P chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N trường hợp có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác.
[8] Theo phạm vi đơn khởi kiện thì bà N chưa có yêu cầu tranh chấp đối với bà Nguyễn Thị H. Cần dành cho bà Nguyễn Thị N một vụ kiện dân sự khác đối với bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H đối với ông Phan Hoàng P và ông Phan Hoàng P đối với ông Nguyễn Phúc T2 và hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần Quốc T5 (nếu có).
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí đo đạc, thẩm định, định giá: Cần buộc bà Nguyễn Thị N chịu nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
Điều 122, 164, 106, 407, 562 và Điều 500 của Bộ Luật Dân sự năm 2015.
Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Điều 5, 26, 91, 92, 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm trả diện tích 6.415 m² thuộc thửa 523, tờ bản đồ số 06, đất toạ lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Tuyên bố hợp đồng uỷ quyền số công chứng 314 giữa ông Trần Quốc T5 với ông Nguyễn Phúc T2 ngày 29 tháng 01 năm 2016 được Công chứng tại Văn phòng C là vô hiệu do giả tạo và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Phúc T2 đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Quốc T5 ký kết với ông Phan Hoàng P được Công chứng tại Văn Phòng C ngày 16 tháng 5 năm 2016 là vô hiệu.
Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra có thẩm quyền xác minh các cá nhân, tổ chức có liên quan đối với việc ông Trần Quốc T5 chết năm 2013 nhưng tại sao năm 2016 có hợp đồng uỷ quyền cho ông Nguyễn Phúc T2 để xử lý theo quy định của pháp luật.
Dành cho bà Trần Thị Thu T4 một vụ kiện dân sự khác để yêu cầu hưởng thừa kế và tranh chấp quyền sử dụng đất (nếu có).
Dành cho ông Trần Tấn T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 một vụ kiện dân sự khác đối với bà Nguyễn Thị L (nếu có).
Dành cho bà Nguyễn Thị N một vụ kiện dân sự khác đối với bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H đối với ông Phan Hoàng P và ông Phan Hoàng P đối với ông Nguyễn Phúc T2 và hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần Quốc T5.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị N chịu nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005188 ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai thành tiền án phí.
Về chi phí đo đạc thẩm định, định giá:
Buộc bà Nguyễn Thị N chịu nộp 6.800.000 đồng. Bà N đã nộp tạm ứng 7.000.000 đồng và chi thực tế 6.800.000 đồng. Bà N được nhận lại 200.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện Thới Lai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại ủy ban nhân dân địa phương đối với đương sự vắng mặt để Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoài T6 |
Bản án số 82/2024/DS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 82/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.
