Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/DS-ST

Ngày: 19/8/2024.

V/v: Tranh chấp hợp đồng

thẻ tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Xuyến

2. Bà Đặng Thị Ngọc Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Sương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 66/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 119/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 436/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT
  2. Trụ sở: Đường N, Phường S, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Gia T là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 5460/2023/UQ-TGĐ ngày 29/12/2023). Ông T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Ông Trương K, sinh năm 1980.
  4. Địa chỉ: Đường D, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn ông K vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 18/01/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT có ông Trần Gia T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 13/12/2021, ông Trương K có ký với Ngân hàng TMCP TT (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông K, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông K thẻ quốc tế Visa số thẻ 472074-2977, với hạn mức sử dụng 15.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông K thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 30.000.000 đồng và ông K thanh toán cho Ngân hàng số tiền 17.899.000 đồng, Ngân hàng đã thanh toán khoản tiền này theo thứ tự thanh toán tại Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ sử dụng của Ngân hàng áp dụng theo thứ tự các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ. Do ông K vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 11/9/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển sang toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 24 Bản Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ sử dụng của Ngân hàng. Tính đến ngày 19/4/2024, ông K còn nợ của thẻ Visa số thẻ 472074-2977 tổng số tiền 23.999.687 đồng gồm: Gốc số tiền 13.612.135 đồng và lãi quá hạn tạm tính đến ngày 19/4/2024 với mức lãi suất 3,9%/tháng số tiền 10.387.552 đồng. Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông K phải trả số tiền nêu trên 1 lần khi án có hiệu luật pháp luật. Từ ngày 20/4/2024, ông K tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất quá hạn trên số nợ gốc của hợp đồng nêu trên cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng chỉ yêu cầu ông K trả nợ Ngân hàng vì đây là khoản vay tín chấp và Ngân hàng cấp thẻ tín dụng cho ông K. Ngân hàng không yêu cầu vợ của ông K cùng có trách nhiệm với ông K trong khoản nợ này.

- Bị đơn ông K không đến Tòa và cũng không có văn bản gởi đến Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Tại phiên Tòa:

- Xét đơn đề nghị xét xử vắng mặt của đại diện theo ủy quyền nguyên đơn ông Trần Gia T ngày 19/8/2024 như sau: Buộc ông Trương K trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT tổng số tiền 26.158.599 đồng của thẻ Visa số 472074-2977 gồm: Nợ gốc 13.612.135 đồng, lãi quá hạn tính từ ngày 11/9/2022 đến ngày 19/8/2024 số tiền 12.546.464 đồng với mức lãi suất 3,9%/tháng. Trả ngay khi án có hiệu luật pháp luật.

- Bị đơn ông Trương K vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án theo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án thì đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT khởi kiện ông Trương K trả số tiền còn thiếu do sử dụng thẻ tín dụng phát sinh tranh chấp từ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/12/2021 được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Căn cứ kết quả xác minh của Công an Phường 14, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh như sau: “Ông Trương K, sinh năm 1980 có hộ khẩu thường trú Đường D, Phường 14, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thực tế đang cư trú tại địa phương”. Do bị đơn ông K cư trú tại Quận 3 nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.3] Bị đơn ông K được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 196, Điều 208 và Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.4] Bị đơn ông K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng không có mặt tại phiên tòa nên tiến hành xét xử vắng mặt ông K theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.5] Đại diện nguyên đơn ông Thế có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Thế.

[2] Về các yêu cầu của nguyên đơn, xét: Buộc ông Trương K trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT tổng số tiền 26.158.599 đồng do sử dụng thẻ Visa số 472074-2977 gồm: Nợ gốc 13.612.135 đồng, lãi quá hạn tính từ ngày 11/9/2022 đến ngày 19/8/2024 số tiền 12.546.464 đồng với mức lãi suất 3,9%/tháng. Trả ngay khi án có hiệu luật pháp luật, thì Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[2.1] Về nợ gốc:

[2.1.1] Căn cứ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/12/2021 của ông K đối với Ngân hàng TMCP TT thì ông K được Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng số tiền 15.000.000 đồng loại thẻ Visa số thẻ số 472074-2977.

[2.1.2] Căn cứ Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản như sau: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.” và tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; Nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, tại khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về nguyên tắc sử dụng thẻ như sau: “ 2. Khi sử dụng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ được thấu chi, chủ thẻ phải sử dụng tiền đúng mục đích và thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho TCPHT các khoản tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo hợp đồng đã ký với TCPHT. 3. Phạm vi sử dụng thẻ:

  • Thẻ ghi nợ, thẻ trả trước định danh được sử dụng để thực hiện các giao dịch thẻ theo thỏa thuận giữa chủ thẻ với TCPHT;
  • Thẻ tín dụng được sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ; nạp, rút tiền mặt theo thỏa thuận giữa chủ thẻ với TCPHT;
  • Thẻ trả trước vô danh chỉ được sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và không được rút tiền mặt;
  • Thẻ phụ phát hành cho chủ thẻ phụ dưới 15 tuổi không được rút tiền mặt và chỉ được sử dụng để thanh toán đúng mục đích đã xác định theo thỏa thuận bằng văn bản giữa TCPHT và chủ thẻ chính.”.

Theo bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP TT quy định tại khoản 1.9 Điều 1 về giải thích thuật ngữ như sau: “Dư nợ số tiền mà Chủ thẻ đã sử dụng bao gồm giá trị các giao dịch, lãi và phí liên quan đến việc sử dụng thẻ”, tại Điều 18 quy định về trách nhiệm thanh toán của chủ thẻ như sau: “... Chủ thẻ có nghĩa vụ thanh toán dư nợ đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu của SS và việc thanh toán này sẽ không bị gián đoạn bởi bất kỳ lý do gì...”, tại Điều 19 quy định về thời hạn thanh toán như sau: “Chủ thẻ phải thanh toán cho SS số tiền đến hạn hoặc số tiền tối thiểu vào hoặc trước ngày đến hạn đước ghi trên thông báo giao dịch...”, tại Điều 21 quy định về thứ tự thanh toán như sau: “Trừ trường hợp SS có quy định khác, việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.”, và tại Điều 24 quy đinh về vi phạm như sau: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của Chủ thẻ cho đến kỳ phát hành thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng. Trường hợp chủ thẻ có bất kỳ khoản nợ nào khác tại SS và/hoặc tại bất cứ tổ chức tín dụng nào khác phát sinh quá hạn, dư nợ của chủ thẻ theo hợp đồng cũng được xem là quá hạn và chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ...” thì đối chiếu bản tóm tắt sao kê của ông K thể hiện giao dịch từ ngày 10/01/2022 cho đến ngày 10/9/2022 của thẻ tín dụng số 472074-2977 còn dự nợ số tiền 13.612.135 đồng và ông K không thanh toán đến nay cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc ông K phải trả số tiền 13.612.135 đồng do sử dụng thẻ tín dụng là phù hợp với quy định của pháp luật với những căn cứ đã viện dẫn nêu trên có sở chấp nhận.

[2.2] Về nợ lãi quá hạn:

[2.2.1] Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định về lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng như sau: “1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng. 2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.”.

[2.2.2] Theo bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng quy định tại Điều 23 quy định về cách tính lãi như sau: “Chủ thẻ đồng ý thanh toán lãi suất phát sinh trên thẻ.” và tại Điều 24 về vi phạm như sau: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của Chủ thẻ cho đến kỳ Thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng. Trường hợp chủ thẻ có bất kỳ khoản nợ nào khác tại SS và/hoặc tại bất cứ tổ chức tín dụng nào khác phát sinh quá hạn, dư nợ của chủ thẻ theo hợp đồng cũng được xem là quá hạn và chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ. Khi vi phạm xảy ra, chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng SS có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau: - Tạm ngưng hoặc chấm dứt quyền sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ dư nợ. - Áp dụng lãi suất nợ quá hạn đối với toàn bộ dư nợ ...”. Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng và chuyển nợ quá hạn thẻ tín dụng nêu trên từ ngày 11/9/2022 là phù hợp với quy định pháp luật với những căn cứ đã viễn dẫn nêu trên là có cơ sở nên chấp nhận.

[2.2.3] Căn cứ theo Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Ngân hàng TMCP TT về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ SS phát hành tại Việt Nam quy định đối với thẻ tín dụng với mức lãi trong hạn là 2,6%/tháng nên Ngân hàng áp dụng mức lãi suất quá hạn 3,6%/tháng đối với thẻ tín dụng số 472074-2977 tính từ ngày 11/9/2022 đến ngày 19/8/2024 số tiền 12.546.464 đồng là phù hợp quy định pháp luật với những căn cứ đã viện dẫn là có cơ sở nên chấp nhận.

[3] Về án phí Dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội thì bị đơn ông K phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 1.307.930 đồng đối với yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP TT được chấp nhận số tiền 26.158.599 đồng.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 196, Điều 208, Điều 210, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463 và khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước.

Áp dụng Luật Phí và lệ phí và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Áp dụng Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT.

Buộc ông Trương K trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT tổng số tiền 26.158.599 đồng gồm: Gốc 13.612.135 đồng và lãi quá hạn từ ngày 11/9/2022 đến ngày 19/8/2024 số tiền 12.546.464 đồng của thẻ Visa số thẻ 472074-2977 theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/12/2021.

Việc trả tiền được thực hiện một lần, khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Trương K còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi của số tiền 13.612.135 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT theo mức lãi suất được quy định theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/12/2021 đến khi thanh toán hết nợ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương K phải chịu án phí số tiền 1.307.930 đồng và nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT số tiền tạm ứng án phí đã nộp 549.116 đồng theo biên lai thu tiền số 0002449 ngày 24/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT và bị đơn ông Trương K được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 3;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS Quận 3;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 82/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại Cổ phần TT - Trương K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger