Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/DS-PT

Ngày: 27/9/2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Lâm.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Cao Gia và ông Ngô Chịu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hải Mi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện Kiểm Sát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ dân sự lý số 59/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 08 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐ-PT ngày 12/09/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 194/2024/QĐPT-DS ngày 24/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đặng Văn C – sinh năm 1973 và Bà Nguyễn Thị Thu L – sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Bị đơn: Bà Đinh Thị Như T - sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn P, xã H, Huyện P, Tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền bà Phạm Thị Thu N- sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn P, xã H, Huyện P, Tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Đại P- sinh năm 1970, bà Hoàng Thị Kiều T1- sinh năm 1978; Cùng Địa chỉ: thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  2. Ông Đinh Văn Đ- sinh năm 1960 và bà Phạm Thị Thu N- sinh năm 1970; Cùng địa chỉ:thôn P, xã H, Huyện P, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  3. Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  4. Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Đặng Văn C, bà Nguyễn Thị Thu L trình bày:

Năm 2013 ông Đặng Văn C, bà Nguyễn Thị Thu L với ông Nguyễn Đại P và bà Hoàng Thị Kiều T1 có mua chung một diện tích đất trên 36.000m² đất trồng cây hàng năm của ông Đặng Đắc C1 và ông Đặng Đắc L1, sau khi mua hai bên làm thủ tục tách thửa và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nhưng trên thực tế thì hai bên chỉ phân chia để làm như thế nào cho phù hợp chứ không đo đạc diện tích cụ thể và hai bên có thỏa thuận đang làm thì cứ như hiện trạng tiếp tục để sử dụng, còn nếu chuyển nhượng cho người khác, thì phải đo đạc lại diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ai bao nhiêu để chuyển nhượng.

Năm 2019 ông P, bà T1 bán cho bà Đinh Thị Như T diện tích đất 3.000m² tại thửa đất số 188, tờ bản đồ số 47 nhưng không nói cho vợ chồng tôi biết để đo đạc lại và cũng không gọi vợ chồng tôi đến để xác định ranh giới đất trước khi bán cho bà T, nên chúng tôi không biết. Khi bà T sử dụng đất này và vợ chồng tôi kiểm tra thực tế và theo đo đạc thì lấn sang phần đất của vợ chồng tôi 721,3m². Việc ranh giới hiện nay giữa phần đất của chúng tôi Chia, L với phần đất của bà T từ khi mua của ông P, bà T1 tự ý trồng phân chia giữa hai phần đất, nhưng không có thông báo cho chúng tôi biết. Nay chúng tôi yêu cầu bà T phải trả lại phần diện tích đất này 721,3m². Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

* Bị đơn bà Đinh Thị Như T và đại diện theo ủy quyền bà Phạm Thị Thu N trình bày:

Ngày 25/9/2018 vợ chồng bà N, ông Đ mua của ông Nguyễn Đại P và bà Hoàng Thị Kiều T1 diện tích 02 hec ta đất trồng cây hàng năm với giá 510.000.000 đồng. Sau khi mua thì chúng tôi chuyển nhượng lại cho con gái Đinh Thị Như T nên ông P với T đi làm thủ tục sang tên chuyển nhượng. Khi mua hiện trạng giữa ông P với ông C cả hai bên đang trồng mía, giữa hai khoảnh đất có bờ ranh đường đi nhỏ để vác phân, chăm bón không có đóng cọc. Ông Phan chỉ cho tôi đó là ranh giới giữa 02 thửa đất của ông P với ông C. Hai bên không đo đạc nhưng ông Phan B hơn 02 hec ta và viết giấy bán cho tôi là 02 hec ta. Khi mua ông P nói đất có sổ đỏ, nhưng trong sổ đỏ khoảng 1,8 héc ta mua chung với ông C, nhưng quá trình sử dụng ông P khai hoang về phía trước đường và sau suối, còn bên ông C hai bên đã thỏa thuận và đã có ranh như trên đã nói, nên ông viết giấy bán 02 héc ta diện tích tăng hơn so với trong sổ đỏ là phần do khai hoang phía trước đường và phía sau suối, không liên quan đến phần đất của ông C vì đã có ranh giới rõ ràng và thực tế ông P đã sử dụng trên diện tích đất này từ trước đến nay đã 06 – 07 năm không có ai tranh chấp, nên tôi mua và sử dụng. Sau khi tôi mua xong tôi cho ông Phan T2 lại để làm Dưa 03 tháng, sau khi ông Phan trả đất tôi trồng mì vợ chồng ông C, bà L xuống bảo tôi trả đất tôi không đồng ý nên ông C, bà L khiếu nại đến Ủy ban và bây giờ khởi kiện đến Tòa. Tôi có ý kiến như sau: Tôi mua của ông P 02 héc ta đã có ranh giới, nên nay tôi làm đúng theo ranh giới vì ông P không nói bán theo sổ đỏ mà chỉ nói bán 02 héc ta, hơn nữa ông P nói ranh giới giữa ông P và ông C đã thỏa thuận xong hết rồi và thực tế ông P đã làm trên đất có ranh giới như bán cho tôi từ lâu rồi, nên tôi không đồng ý trả lại cho ông C, bà L như yêu cầu.

Hiện nay tôi thừa nhận trên thực tế phần diện tích đất tôi sử dụng có thừa theo diện tích đo đạc thực tế là 721,3m² như nguyên đơn ông C, bà L trình bày. Nhưng diện tích này khi tôi mua đã có từ trước khi ông P, bà T1 bán cho tôi và ranh giới cụ thể, nên không chấp nhận trả phần đất này cho ông C, bà L.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Phạm Thị Thu N, ông Đinh Văn Đ trình bày: thống nhất như lời trình bày của bà Đinh Thị Như T.

Ông Nguyễn Đại P trình bày: vào năm 2018 tôi có bán cho bà Đinh Thị Như T con của ông Đ, bà N tổng diện tích khoản 18.000m², trong đó có thửa đất số 188, tờ bản đồ 47 diện tích 3.000m², tôi bán diện tích này là có sổ đỏ cấp cho tôi, hai bên mua bán đã xong không liên quan gì đến tôi nữa.

Ủy ban nhân dân huyện P và Ủy ban nhân dân xã H vắng mặt không có lời trình bày.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 18 /2024/DS-ST ngày 27/06/2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Hòa đã quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điềm a, Khoản 1, Điều 35, Điểm a, Khoản 1, Điều 39, 147, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 155, 158, 163, 164, 169 và 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 170 và 203 Luật đất đai năm 2013; điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn C, bà Nguyễn Thị Thu L đối với bị đơn bà Đinh Thị Như T về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Buộc bà Đinh Thị Như T trả lại cho ông Đặng Văn C, bà Nguyễn Thị Thu L quyền sử dụng đất có diện tích 721,3m² được xác định có tứ cận như sau:

  • - Phía Đông giáp suối;
  • - Phía Tây giáp đường đi;
  • - Phía Nam giáp đất bà Phạm Thị Thu N;
  • - Phía Bắc giáp đất của ông Đặng Văn C, bà Nguyễn Thị Thu L.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 25/07/2024, Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phạm Thị Thu N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu giữ nguyên bản án.
  • - Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật dân sự hủy bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định là kháng cáo hợp lệ, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo của Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phạm Thị Thu N, yêu cầu kháng cáo gồm:

  • - Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
  • - Buộc nguyên đơn phải chịu chi phí tố tụng và án phí.

[2.1] Xác định diện tích đất tranh chấp: ông Đặng Văn C, bà Nguyễn Thị Thu L có tranh chấp đất với bà Đinh Thị Như T diện tích đất đo đạc thực tế 721,3m². Ông Đặng Văn C, bà Nguyễn Thị Thu L cho rằng diện tích đất đo đạc thực tế 721,3m²; tọa lạc tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên là do hai ông, bà mua của ông Đặng Đắc C1, ông Đặng Đắc L1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bà T đang sử dụng diện tích đất 721,3m² nên khởi kiện yêu cầu trả lại.

[2.2] Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất đang tranh chấp: Trên thực tế ông C, bà L có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chung với ông P, bà T1 nhiều thửa đất của ông Đặng Đắc C1 và ông Đặng Đắc L1; trong đó có thửa số 136, tờ bản đồ 47 với diện tích 11.145m². Sau đó, giữa 2 ông C và P đã tự phân chia ranh giới các thửa đất, sử dụng ổn định, trong đó thửa 136 được phân chia cho vợ chồng ông P sử dụng thực tế 3.721,3 m²; vợ chồng ông C sử dụng thực tế 7.423,05m². Vào năm 2013, ông Đăng Văn C2 làm thủ tục tách thửa số 136, tờ bản đồ 47 với diện tích 11.145m² và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành hai thửa; thửa thứ nhất ông Đặng Văn C, bà Nguyễn Thị Thu L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 490998, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00142 ngày 30/12/2013, tại thửa 187, tờ bản đồ số 47, với diện tích 8.145m² (đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; thửa thứ hai, ông Đặng Văn C, bà Nguyễn Thị Thu L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 490999, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00143 ngày 30/12/2013, tại thửa 188, tờ bản đồ số 47, với diện tích 3.000m² (đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Như vậy, ông C đã không tôn trọng ranh giới thực tế giữa 02 bên, tự ý kê khai có lợi cho mình và làm thiệt hại đối với vợ chồng ông P.

Đến ngày 06/01/2014, ông Đặng Văn C, bà Nguyễn Thị Thu L chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đại P, bà Hoàng Thị Kiều T1 thửa đất số 188, tờ bản đồ số 47, với diện tích 3.000m². Nhưng thực tế việc các bên lập hợp đồng chuyển nhượng để hợp pháp hóa việc phân chia tài sản là quyền sử dụng đất đã được xác lập trước đó giữa 02 bên. Văn phòng đăng ký đất đai huyện P; Phòng tài nguyên môi và trường huyện P không đo đạc địa chính để chia tách thửa đất theo hiện trạng, mà chỉ căn cứ trên “Đơn xin tách thửa đất, hợp thửa đất” đề ngày 04/12/2013 của ông C để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 02 thửa 187 và 188 là không đúng với diện tích sử dụng đất của ông P và ông C.

[2.3] Vào ngày 01/11/2018 bà Đinh Thị Thu T3 có nhận chuyển nhượng ông Nguyễn Đại P, bà Hoàng Thị Kiều T1 diện tích đất tại thửa 188, tờ bản đồ số 47, với diện tích 3.000m² (đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Được Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng quyền sử dụng đất BO 490999, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00143 ngày 30/12/2013. Trên thực tế, bà T3 đã căn cứ vào diện tích đất thực tế vợ chồng ông P, bà T1 đang quản lý và sử dụng để nhận chuyển nhượng nên được hiểu rằng bà T3 là người thứ ba ngay tình. Theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Dân sự thì quyền lợi của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ, cần công nhận diện tích đất thực tế nhận chuyển nhượng cho bà T3. Nên chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Đinh Thị Thu T3 phải giao trả diện tích đất 721,3m².

[2.4] Để đảm bảo vệ quyền lợi cho bà T3 thì cần phải hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên vì cấp diện tích không đúng thực tế. Tuy nhiên, theo tinh thần hướng dẫn tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao, tại mục 2 phần II quy định: “theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP15-5-2014 của Chính phủ thì việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng (các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật Đất đai) là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực. Cho nên, khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị vô hiệu, nhưng người nhận chuyển quyền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được xác nhận nội dung biến động thì không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất vô hiệu thì Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án”.

Đối chiếu với hướng dẫn trên đây, Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên; các đương sự được quyền liên hệ với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P để đăng ký lại biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với diện tích đất đang sử dụng thực tế (theo Bản vẽ kèm theo Bản án này).

[3] Ngoài ra, tại cuối Mục [4], Bản án sơ thẩm còn có nhận định: “Đối với công trình, cây trồng trên đất các bên đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét”; trong vụ án này, bị đơn có ý kiến không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trả lại diện tích đất 721,3m² là lớn hơn yêu cầu thanh toán lại giá trị công trình và cây trồng trên đất, nên cấp sơ thẩm không giải quyết là thuộc trường giải quyết không triệt để yêu cầu, ý kiến của đương sự; có khả năng dẫn đến bản án không thể thi hành được. Tuy nhiên, do cấp phúc thẩm đã không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại đất nên cấp sơ thẩm cần phải rút kinh nghiệm.

[4] Về án phí: Bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sơ thẩm.

[5] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 15.030.000 đồng, đã nộp tạm ứng đủ nên không phải nộp nữa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Chấp nhận kháng cáo của Bị đơn; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 27/06/2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Áp dụng khoản 9 Điều 26, Điềm a, Khoản 1, Điều 35, Điểm a, Khoản 1, Điều 39, 147, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 155, 158, 163, 164, 169 và 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 170 và 203 Luật đất đai năm 2013; điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. [1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đăng Văn C2 và bà Nguyễn Thị Thu L về việc yêu cầu bà Đinh Thị Thu T3 phải giao trả diện tích đất 721,3m².
  2. [2] Bà Đinh Thị Thu T3 được quyền sử dụng diện tích đất 721,3m² được xác định có tứ cận như sau:
    • - Phía Đông giáp suối;
    • - Phía Tây giáp đường đi;
    • - Phía Nam giáp đất bà Đinh Thị Thu T3;
    • - Phía Bắc giáp đất của ông Đặng Văn C, bà Nguyễn Thị Thu L.
  3. [3] Các đương sự được quyền liên hệ với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P để đăng ký lại biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với diện tích đất đang sử dụng thực tế (theo Bản vẽ kèm theo bản án này).
  4. [4] Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại cho N1 đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phạm Thị Thu N số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004757 ngày 25/7/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
  5. [5] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 15.030.000 đồng, đã nộp tạm ứng đủ nên không phải nộp nữa.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - TAND huyện Phú Hòa;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Hòa;
  • - P.TTNV&THA;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Trúc Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/DS-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 82/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger