Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/DSST

Ngày: 6/9/2024

V/v: “Tranh chấp HĐ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Kình
  2. Ông Nguyễn Văn Hoà

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Cán bộ TAND quận Hoàn Kiếm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 6 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 42/2024/TLST- DS ngày 6 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST- DS ngày 29 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 126/2024/QÐST-HPT ngày 16/8/2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S2 (S3); Địa chỉ trụ sở: Số G, phố T, phường T, quận H, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Huy T – Phó Tổng Giám đốc (Theo Văn bản ủy quyền số 712A/2023/VBUQ-TGĐ ngay 1/12/2023 của Tổng Giám đốc Ngân hàng S3)

Uỷ quyền lại: Ông Mai Hồng Q, ông Nguyễn Mạnh C, ông Chu Trọng C1 – Cán bộ Ngân hàng TMCP S2. (Theo Văn bản ủy quyền số 341/2024/UQ-SHB ngày 23/7/2024) (Có mặt: Ông Q, ông C; Vắng mặt: Ông C1)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1964; HKTT tại: số E M, phường H, quận H, Hà Nội. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Vũ Xuân S, sinh năm 1970. (đã mất)
  2. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Vũ Xuân S: Bà Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm 1970 (vợ ông S) và anh Vũ Thành Q1, sinh năm 1994 (con đẻ của ông S, bà L1).

  3. Bà Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm 1970; Trú tại: Số F nay là số C, ngõ chùa H1, phường M, quận H, Hà Nội. (xin xét xử vắn mặt)
  4. Anh Vũ Thành Q1, sinh năm 1994; (xin xét xử vắng mặt)
  5. Chị Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1995; (xin xét xử vắng mặt)
  6. Cháu Vũ Gia P, sinh năm 2019;
  7. Cháu Vũ Uyển P1, sinh năm 2021;
  8. Người đại diện theo pháp luật của cháu Vũ Gia P, cháy Vũ Uyển P1: Anh Vũ Thành Q1 và chị Nguyễn Ngọc Á (bố mẹ đẻ của 2 cháu)

    Trú tại: Số F nay là số C, ngõ chùa H1, phường M, quận H, Hà Nội. Hiện trú tại: Phòng B chung cư H phố H, phường B, quận L, Hà Nội.

    Hiện anh Vũ Thành Q1 đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H.

  9. Ông Vũ Xuân Q2, sinh năm 1979; Trú tại: Số F nay là số C, ngõ chùa H1, phường M, quận H, Hà Nội. (xin xét xử vắng mặt)
  10. Công ty TNHH Một Thành Viên Q3; Địa chỉ trụ sở: B T, phường D, quận C, Hà Nội.
  11. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến D – Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc.

    Đại diện theo uỷ quyền: Xí nghiệp Q4, Hà Nội; Địa chỉ trụ sở: Số A phố B, phường N, quận H, Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Tuấn D1 – Giám đốc (xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 25/1/2024 và các lời khai tại Toà án, đại diện nguyên đơn – Ngân hàng S3 trình bày:

Theo đề nghị vay vốn của bà Nguyễn Thị Kim L, ngày 11/11/2013 Ngân hàng TMCP S2 (ngân hàng S3) và bà Nguyễn Thị Kim L ký kết Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 49/2013/HĐTDTDH-CN/SHB.HT và ngày 15/11/2013 ký kết Khế ước nhận nợ số 01/KUNN-CN kèm theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 49/2013/HĐTDTDH-CN/SHB.HT giải ngân số tiền vay với nội dung chi tiết như sau: Số tiền vay: 1.200.000.000 đồng; Mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán tiền mua nhà; Thời hạn cho vay: 120 tháng kể từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên, ngày rút vốn: 15/112013 ngày đến hạn: 15/11/2023; Lãi suất vay trong hạn: 13,5%/năm, điều chỉnh 03 tháng/1 lần kể từ ngày giải ngân; Lãi suất vay quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn; Phương thức rút vốn vay: Bằng chuyển khoản vào tài khoản người nhận tiền; Phương thức trả nợ: Trả lãi: Lãi hàng tháng vào ngày 25 dương lịch; Trả gốc: 10.000.000 đồng hàng tháng vào ngày 25 dương lịch, bắt đầu trả gốc lần đầu tiên vào ngày 25/12/2013, tất toán khi đến hạn. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số; -/-; tờ bản đồ số; - ; diện tích: 29.0 m2 tại địa chỉ: Số nhà F, ngõ chùa H1, phổ Minh Khai, phương M, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 756540, số vào sổ cấp GCN: CH 00664/191.2012 do UBND quận H cấp ngày 24/04/2012 thuộc sở hữu của ông Vũ Xuân S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1. Tài sản bảo đảm được ký kết theo Hợp đồng thế chấp số công chứng: 992 2013/HĐTC. Quyển số: 02 TP/CC - SCC/HĐGD ký ngày 11/11/2013 tại Văn phòng C2, thành phố Hà Nội giữa Ngân hàng TMCP S2 với ông Vũ Xuân S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1. Đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất và nhà quận H ngày 12/11/2013.

Ngân hàng S3 đã giải ngân đầy đủ số tiền vay 1.200.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Kim L theo Hợp đồng, khế ước nhận nợ trên thể hiện tại Ủy nhiệm chi ngày 15/11/2013. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Kim L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền nợ gốc, nợ lãi cho ngân hàng nên toàn bộ khoản vay chuyển sang nợ quá hạn. Cụ thể bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng ngay từ kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 25/11/2013. Tổng số tiền bà L đã trả là 28.202.045 đồng, trong đó nợ gốc: 10.000.000 đồng, nợ lãi và phí: 18.202.045 đồng. Ngân hàng S3 đã nhiều lần đôn đốc trả nợ nhưng cho đến nay bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ảnh hưởng đến quyền lợi của ngân hàng. Tạm tính đến ngày 22/1/2024 bà Nguyễn Thị Kim L còn nợ ngân hàng: Nợ gốc: 1.190.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.652.379.195 đồng, nợ lãi phạt chậm trả gốc: 426.012.721 đồng, nợ lãi phạt chậm trả lãi: 1.225.581.616 đồng, tổng cộng là: 4.497.282.712 đồng.

Nay đại diện ngân hàng đề nghị Toà án giải quyết: a/ Buộc bà Nguyễn Thị Kim L phải thanh toán cho Ngân hàng S3 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 22/1/2024 là: Nợ gốc: 1.190.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.652.379.195 đồng, nợ lãi phạt chậm trả gốc: 426.012.721 đồng, nợ lãi phạt chậm trả lãi: 1.225.581.616 đồng, tổng cộng là: 4.497.282.712 đồng. b/Buộc bà Nguyễn Thị Kim Liên tiếp t phải trả Ngân hàng S3 số tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ được ký kết kể từ ngày 23/1/2024 cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng. c/ Trường hợp bà Nguyễn Thị Kim L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng S3 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm cho khoản vay để thu hồi nợ cho ngân hàng, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số; -/-; tờ bản đồ số; - ; diện tích: 29.0 m2 tại địa chỉ: Số nhà F, ngõ chùa H1, phổ Minh Khai, phương M, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 756540, số vào sổ cấp GCN: CH 00664/191.2012 do UBND quận H cấp ngày 24/04/2012 thuộc sở hữu của ông Vũ Xuân S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1. Tài sản bảo đảm được ký kết theo Hợp đồng thế chấp số công chứng: 992 2013/HĐTC. Quyển số: 02 TP/CC - SCC/HĐGD ký ngày 11/11/2013 tại Văn phòng C2, thành phố Hà Nội giữa Ngân hàng TMCP S2 với ông Vũ Xuân S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1. Đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất và nhà quận H ngày 12/11/2013. d/ Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên bà Nguyễn Thị Kim L có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng S3 và Ngân hàng S3 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh kê biên tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim L để thu hồi nợ.

* Bị đơn – bà Nguyễn Thị Kim L:

Bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc và yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án. Nhưng bị đơn đều không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án nên Tòa án không lấy được lời khai cũng không hòa giải được. Tòa án đã tống đạt đúng quy định Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ trong vụ án:

- Bà Nguyễn Thị Ngọc L1 đồng thời là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Vũ Xuân S trình bày: Chồng tôi là ông Vũ Xuân S, sinh năm 1970 và mất năm 2021. Tôi và chồng tôi chỉ có 01 con chung duy nhất là anh Vũ Thành Q1, sinh năm 1994, ngoài ra vợ chồng tôi không còn con chung, con nuôi nào khác. Bố chồng tôi là cụ Vũ Xuân T1, sinh năm 1938 và mất năm 1996, mẹ chồng tôi là cụ Dương Thị N, sinh năm 1950 và mất năm 2015. Nhà đất tại địa chỉ số F nay là số C ngõ C, phường M, quận H, Hà Nội đã được UBND quận H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên ông Vũ Xuân S: Diện tích theo giấy chứng nhận là 29m2, trên có 01 ngôi nhà cấp IV diện tích sử dụng 27m2. Năm 2007 vợ chồng tôi đã phá bỏ nhà cấp IV và xây dựng thành nhà 02 tầng 01 tum. Khi xây dựng vợ chồng tôi có xây dựng lấn ra phần đất công phía trước nhà và phần đất ao (đã lấp) do gia đình tôi mua nên tổng diện tích mặt sản là 65m2, trong đó phần diện tích nhà gia đình tôi sử dụng được xây dựng trên 29m2 đất trong giấy chứng nhận và khoảng 12m2 đất công phía trước mặt và diện tích nhà được xây dựng trên phần đất ao phía sau khoảng 24m2 do em chồng tôi là ông Vũ Xuân Q2 sử dụng. Tại nhà đất thế chấp chỉ có gia đình tôi gồm tôi, con trai, con dâu, 02 cháu và ông Vũ Xuân Q2 ở, ngoài ra không còn ai khác. Do hiện nay nhà đất thế chấp đã xuống cấp nên chỉ còn tôi và ông Q2 ở, còn con trai, con dâu và 02 cháu đã chuyển ra thuê nhà tại địa chỉ phòng B chung cư H Hồ N để ở. Tài sản nhà đất tại địa chỉ số F nay là số C ngõ C, phường M, quận H, Hà Nội vợ chồng tôi đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 11/11/2013 để bảo đảm cho khoản vay 1.200.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Kim L tại Ngân hàng S3. Từ thời điểm thế chấp đến giờ hiện trạng tài sản thế chấp vẫn giữ nguyên không thay đổi gì. Tôi vẫn đóng thuế đất hàng năm cho diện tích 65m2. Tôi đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của ngân hàng L2 đến việc vay vốn, thế chấp tôi hoàn toàn nhất trí, xác nhận là đúng và không có ý kiến gì khác. Việc vợ chồng tôi ký kết tại Biên bản định giá tài sản tiền vay ngày 11/11/2013, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 11/11/2013 và đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 12/11/2013 là đúng chữ ký, chữ viết của vợ chồng tôi, không có ý kiến gì khác. Đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị ngân hàng xem xét giúp đỡ tạo điều kiện trả nợ, rút tài sản thế chấp để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của gia đình tôi. Do bận công việc nên không thể trực tiếp tham gia vụ án đề nghị xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và tất cả các phiên xét xử của Tòa án. Đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Anh Vũ Thành Q1 đồng thời là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Vũ Xuân S và chị Nguyễn Ngọc Á thống nhất trình bày: Chúng tôi đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với nội dung ý kiến của mẹ chúng tôi là bà Nguyễn Thị Ngọc L1 trình bày tại Tòa án, không có ý kiến gì khác. Quá trình ở trên tài sản thế chấp, chúng tôi không xây dựng, sửa chữa gì, không có tài liệu chứng cứ gì để giao nộp. Anh Vũ Thành Q1 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H và chị Nguyễn Ngọc Á có đơn đề nghị xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và tất cả các phiên xét xử của Tòa án. Đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Ông Vũ Xuân Q2 trình bày: Hiện nay tôi đang sinh sống tại tài sản thế chấp là nhà đất tại địa chỉ số F nay là số C ngõ C, phường M, quận H, Hà Nội và đang quản lý phần diện tích đất ao có nguồn gốc là của bố mẹ tôi cụ Vũ Xuân T1, cụ Dương Thị N mua của cụ S1 vào khoảng năm 1991. Việc mua bán giữa hai bên chỉ có giấy tờ viết tay, không làm thủ tục xác nhận tại UBND phường. Sau khi mua xong bố mẹ tôi đã lấp toàn bộ phần đất ao thành đất bằng liền sát với phần đất đã được cấp giấy chứng nhận của ông Vũ Xuân S và tặng cho tôi phần đất này, việc tặng cho cũng chỉ bằng miệng. Đối với tài liệu chứng cứ liên quan đến việc mua bán đất tôi sẽ giao nộp cho Tòa án trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản (ngày 11/4/2024). Quá trình quản lý, sử dụng, năm 2007 vợ chồng anh S đã phá bỏ nhà cấp IV cũ xây dựng nhà 02 tầng 01 tum trên toàn bộ phần diện tích đã được cấp giấy chứng nhận, phần đất ao bố mẹ tôi đã mua, san lấp và tặng cho tôi trên và lấn ra phần đất công phía trước nên tổng diện tích mặt sàn xây dựng là khoảng 65m2. Hiện tôi đang ở tại phần diện tích nhà xây dựng trên phần đất ao, còn phần diện tích nhà xây dựng trên diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận và phần đất công phía trước do gia đình chị L1 sử dụng. Quá trình sinh sống tôi không sửa chữa, xây dựng gì. Ngoài gia đình bà L1 và tôi không còn ai sinh sống tại nhà đất thế chấp. Tôi đã được Tòa án

- Công ty TNHH MTV Q3 do Xí nghiệp Q4 (đại diện theo pháp luật là ông Vũ Tuấn D1 - giám đốc) là đại diện theo ủy quyền trình bày: Nhà số F (nay là 37) ngõ Chùa H1 là nhà có nguồn gốc thuộc sở hữu của Nhà nước do bà Dương Thị N đứng tên chủ Hợp đồng thuê nhà số A ký ngày 7/6/2000, đã đăng ký tại Sở Địa chính – Nhà đất Hà Nội. Ngày 7/6/2006 bà Dương Thị N đã làm đơn sang tên Hợp đồng thuê nhà cho con trai là ông Vũ Xuân S, nội dung đơn có sự nhất trí đồng thuận của các thành viên còn lại trong Hợp đồng thuê nhà và có xác nhận của UBND phường M. Ông Vũ Xuân S đã nộp đơn đề nghị bán nhà cho người đang ở thuê và xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở tại Xí nghiệp Q4, Xí nghiệp đã thực hiện đúng quy trình bán nhà và trình cấp Giấy chứng nhận QSH nhà và QSD đất và các tài sản khác gắn liền với đất cho hộ ông S theo các quy định tại thời điểm bán. Giấy chứng nhận thể hiện: Diện tích sở hữu nhà (diện tích theo hợp đồng thuê nhà): 27m2; diện tích sử dụng đất ở: 29m2. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính và được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, Xí nghiệp đã chấm dứt Hợp đồng thuê nhà nhà với hộ ông S và đưa ra khỏi danh sách quản lý nhà thuê của Nhà nước. Diện tích đất còn lại chưa cấp Giấy chứng nhận thuộc sở hữu Nhà nước và do chủ sở hữu ngôi nhà là người sử dụng nên ý kiến trình bày của bà L1 và ông Q2 là không có căn cứ chấp nhận. Xí nghiệp Q4 xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết và phiên tòa xét xử vụ án Đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật xét xử theo thẩm quyền.

Tại phiên toà đại diện ngân hàng xin rút một phần nội dung khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền phạt chậm trả gốc và phạt chậm trả lãi, còn giữ nguyên các nội dung khởi kiện khác. Đề nghị HĐXX buộc bị đơn thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 6/9/2024 là 2.818.441.620 đồng gồm: Nợ gốc: 989.999.452 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.749.338.526 đồng, nợ lãi quá hạn: 79.103.642 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tại phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về thời hiệu và thẩm quyền: Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thời hiệu và thẩm quyền theo quy định. Thẩm phán lập hồ sơ, xác minh, thu thập chứng cứ, tiến hành giao các văn bản tố tụng và tiến hành trình tự, thủ tục tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng tại phiên tòa đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng chấp hành đúng các quy định của BLTTDS. Bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn theo đquy định. Bị đơn trong vụ án lần thứ 2 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ nên căn cứ Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt các đương sự trên. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S3 buộc bà Nguyễn Thị Kim L phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ tạm tính đến ngày 6/9/2024 là 2.818.441.620 đồng gồm: Nợ gốc: 989.999.452 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.749.338.526 đồng, nợ lãi quá hạn: 79.103.642 đồng, bị đơn phải tiếp tục chịu lãi suất theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi thực tế thanh toán hết khoản nợ và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm nếu bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện ngân hàng đã rút. Trường hợp bị đơn - bà Nguyễn Thị Kim L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đề nghị Tòa án tuyên ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản bảo đảm cho khoản vay để thu hồi nợ cho ngân hàng theo hợp đồng thế chấp và quy định pháp luật. Về án phí: Nguyên đơn ngân hàng được hoàn trả tiền tạm ứng án phí DSST, bị đơn phải chịu án phí DSST trên cơ sở số tiền phải trả theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả diễn biến tại phiên toà, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Giữa nguyên đơn – Ngân hàng S3 và bị đơn – bà Nguyễn Thị Kim L xác lập quan hệ với nhau thông qua hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. Bị đơn vay tiền để phục vụ mục đích dân sự và có HKTT tại địa chỉ số E M, phường H, quận H, Hà Nội là địa chỉ gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng, hiện vắng mặt tại địa chỉ cư trú nhưng không cung cấp địa chỉ nơi chuyển đến cho ngân hàng và Công an phường H được coi là cố tình giấu địa chỉ nên việc TAND quận Hoàn Kiếm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS và hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

- Về những người tham gia tố tụng: Bị đơn lần thứ 2 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có đơn xin xét xử vắng mặt nên đủ điều kiện xét xử vắng mặt đối với những người trên theo quy định tại Điều 228 BLTTDS.

* Về nội dung:

[1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu buộc bị đơn phải trả nợ gốc, nợ lãi đối với Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết:

Ngân hàng S3 và bà Nguyễn Thị Kim L ký kết Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 49/2013/HĐTDTDH-CN/SHB.HT ngày 11/11/2013 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN-CN ngày 15/11/2013 với các nội dung chủ yếu sau: Số tiền vay: 1.200.000.000 đồng; Mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán tiền mua nhà; Thời hạn cho vay: 120 tháng kể từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên, ngày rút vốn: 15/112013 ngày đến hạn: 15/11/2023. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện việc ký kết hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ là tự nguyện thoả thuận, ký kết bởi những người có đủ thẩm quyền, năng lực hành vi dân sự, phù hợp với giao dịch được xác lập, mục đích và nội dung của hợp đồng, khế ước nhận nợ không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 49/2013/HĐTDTDH-CN/SHB.HT ngày 11/11/2013 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN-CN ngày 15/11/2013 trên là hợp pháp và là căn cứ để các bên thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng, ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là giải ngân cho bị đơn đủ số tiền vay theo Hợp đồng tín dụng, K ước nhận nợ theo đúng thỏa thuận phương án giải ngân 01 lần rút vốn vay bằng chuyển khoản vào tài khoản người nhận tiền, nội dung: thanh toán tiền mua nhà thể hiện tại uỷ nhiệm chi ngày 15/11/20213. Bị đơn đã nhận đủ số tiền vay nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo cam kết. Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn theo quy định tại khoản 8.2 Điều 8 của Hợp đồng tín dụng đã ký. Ngân hàng S3 khởi kiện ra Toà án yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ gốc, nợ lãi của hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ là có cơ sở chấp nhận.

Xét yêu cầu của ngân hàng đối với đối với khoản nợ gốc, nợ lãi: Quá trình vay vốn bị đơn không thực hiện trả nợ gốc, lãi theo đúng lịch trả nợ cam kết, vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 25/11/2013 nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Theo đó bị đơn còn nợ ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 6/9/2024 là 2.818.441.620 đồng gồm: Nợ gốc: 989.999.452 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.749.338.526 đồng, nợ lãi quá hạn: 79.103.642 đồng. Xét cách tính lãi suất của ngân hàng tại hợp đồng, khế ước cho vay mà các bên đã ký kết và các quyết định áp dụng biểu lãi suất là phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu của ngân hàng buộc bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn là hợp pháp. Do vậy cần buộc bị đơn có trách nhiệm trả nợ ngân hàng số tiền nợ gốc, nợ lãi tạm tính đến ngày 6/9/2024 là 2.818.441.620 đồng theo yêu cầu của ngân hàng là hoàn toàn có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án xử lý tài sản đảm bảo trong trường hợp bị đơn không thanh toán nợ, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, HĐXX nhận thấy:

Để đảm bảo cho khoản vay tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ kèm theo của bị đơn, Ngân hàng S3 (bên nhận thế chấp), chủ sở hữu, sử dụng tài sản thế chấp là ông Vũ Xuân S, bà Nguyễn Thị Ngọc L1 (bên thế chấp) và bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L (bên được bảo đảm) đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 992.2013/HĐTC, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/11/2013 tại Văn phòng C2, thành phố Hà Nội và đăng ký giao dich bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất và nhà quận H (nay là Văn phòng Đ – chi nhánh quận H) ngày 12/11/2013. Theo đó bên thế chấp là ông Vũ Xuân S, bà Nguyễn Thị Ngọc L1 đã thế chấp toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số; -/-; tờ bản đồ số; - ; diện tích: 29.0 m2 và nhà cấp IV diện tích sàn: 27m2, số tầng 1, kết cấu: Tường gạch mái ngói tại địa chỉ: Số nhà F, ngõ chùa H1, phổ Minh Khai, phương M, quận H, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 756540, số vào sổ cấp GCN: CH 00664/191.2012 do UBND quận H cấp ngày 24/04/2012 đứng tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là ông Vũ Xuân S để đảm bảo cho khoản vay của bà Nguyễn Thị Kim L (bên được bảo đảm) tại Ngân hàng S3 với số tiền 1.200.000.000 đồng. Với việc cùng ký xác nhận là Bên thế chấp và thống nhất dùng tài sản nhà đất tại địa chỉ số F nay là số C ngõ C đã được cấp Giấy chứng nhận đứng tên ông Vũ Xuân S tại Hợp đồng thế chấp thế chấp tài sản để bảo đảm cho khoản vay của bị đơn tại ngân hàng thể hiện ông Vũ Xuân S đã xác định toàn bộ tài sản nhà đất thế chấp là tài sản chung vợ chồng và năm 2007 ông S, bà L1 đã bỏ tiền phá bỏ nhà cấp IV cũ xây dựng thành nhà 02 tầng 01 tum trên toàn bộ diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận và diện tích đất công phía trước và diện tích đất công phía sau và được ông S, bà L1 và ngân hàng thống nhất ghi nhận tại Biên bản định giá tài sản đảm bảo tiền vay ngày 11/11/2013: “Đặc điểm tài sản: Diện tích sử dụng thực tế là khoảng 70m2. Tài sản trên đất là nhà 03 tầng xây dựng trên diện tích sử dụng thực tế, Thiết kế bình thường, nhà xây năm 2007, giá trị còn khoảng 70%”. Quá trình giải quyết vụ án, bà L1 và ông Q2 có trình bày nhà 02 tầng 01 tum xây trên tổng diện tích đất khoảng 65m2 bao gồm phần diện tích đất công phía trước ngoài diện tích đất theo giấy chứng nhận, diện tích đất theo giấy chứng nhận và diện tích đất ao phía sau sát diện tích đất theo giấy chứng nhận do bố mẹ chồng mua của cụ S1 khoảng năm 1991, sau đó lấp ao và tặng cho ông Q2 nhưng ngoài lời trình bày thì bà L1, ông Q2 không xuất trình được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh mặc dù đã được Tòa án thông báo giao nộp chứng cứ. Theo cung cấp của UBND phường M và Xí nghiệp Q4 thì: Nhà đất số F (nay là số C) ngõ chùa H1, phường M, quận H, Hà Nội đứng tên ông Vũ Xuân S thuộc thửa số 83 một phần tờ bản đồ 51 – J – 25 tổng diện tích 65,5m2 trong đó diện tích 29,0m2 đã được UBND quận H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Hiện trạng nhà trên đất là nhà 02 tầng 01 tum. Giấy chứng nhận thể hiện: Diện tích sở hữu nhà (diện tích theo hợp đồng thuê nhà): 27m2; diện tích sử dụng đất ở: 29m2. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính và được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, Xí nghiệp Q4 đã chấm dứt Hợp đồng thuê nhà với hộ ông S và đưa ra khỏi danh sách quản lý nhà thuê của Nhà nước. Diện tích đất còn lại chưa cấp Giấy chứng nhận thuộc sở hữu Nhà nước và do chủ sở hữu ngôi nhà là người sử dụng nên ý kiến trình bày của bà L1 và ông Q2 là không có căn cứ chấp nhận. Căn cứ khoản 1.1.1 và 1.1. 2 Điều 1. Tài sản thế chấp của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 11/11/2013 thì quyền sử dụng đất và tài sản trên đất như trong Giấy chứng nhận được cấp và các tài sản, quyền và lợi ích sau (nếu có) cũng thuộc tài sản thế chấp: “Các tài sản gắn liền với tài sản thế chấp do bên thế chấp đầu tư, tạo lập trước và trong khi thế chấp”, lời khai xác nhận của bà L1 và các tài liệu chứng cứ liên quan đủ cơ sở khẳng định phần giá trị xây dựng trên đất là nhà 02 tầng 1 tum đã được xem xét và định giá vào giá trị tài sản bảo đảm tại Biên bản định giá tài sản đảm bảo tiền vay ngày 11/11/2013 và được nêu trong Hợp đồng thế chấp tại phần định giá tài sản thế chấp. Đây là tài sản do bên thế chấp là ông S, bà L1 tạo dựng lên chưa được cấp GCN quyền sở hữu, trong đó có một phần xây dựng trên phần đất công do Công ty TNHH MTV Q3 do Xí nghiệp Q4 là đại diện quản lý nên Toà án đã đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo biên bản xem xét thẩm định và T2 đo địa chính thửa đất ngày 03/5/2024, qua kiểm tra hiện trạng thì gia đình bà Nguyễn Thị Ngọc L1 có sử dụng diện tích đất là 60,5m2 và trên đất là nhà 02 tầng 1 tum, trong đó phần diện tích đất ngoài GCN là 31,5m2 cụ thể diện tích xây dựng tầng 1 cơi nới trên phần đất công phía trước và phía sau ngoài giấy chứng nhận lần lượt là 10,0m2 và 21,5m2, DTXD là 60,5m2; DTS tầng 1, 2: 60,5m2, DTS tầng tum: 18,5m2, tổng DT là 139,5m2 từ khi thế chấp năm 2011 đến nay vẫn giữ nguyên hiện trạng, không thay đổi gì. Vì vậy đối với đối với phần tài sản trên đất gắn liền với đất không hợp pháp sẽ chịu sự quản lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật đất đai và các đương sự có tên trong bản án hoặc không có tên phát sinh (nếu có) sinh sống trên tài sản thế chấp đều phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật và thực hiện quyết định của bản án. Xét hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, hình thức và nội dung thế chấp được thực hiện đúng theo quy định pháp luật, đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại cơ quan có thẩm quyền, do đó hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên. Do đó HĐXX thấy cần chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ kèm theo và quy định pháp luật.

[3] Đại diện theo ủy quyền của ngân hàng xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền phạt chậm trả gốc và phạt chậm trả lãi theo quy định tại hợp đồng tín dụng. Xét thấy việc rút yêu cầu của ngân hàng là tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 BLTTDS HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của ngân hàng đã rút.

Đối với yêu cầu trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên bà Nguyễn Thị Kim L có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng S3 và ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh kê biên tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim L để thu hồi nợ. Xét thấy đây thuộc giai đoạn thi hành án dân sự, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên HĐXX không xét

[4] Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội: Phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí DSST đối với số tiền phải thanh toán theo quy định pháp luật. Ngân hàng không phải chịu án phí, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, 227, 228, 244, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Điều 302, 305, 318, 319, 323, 342, 343, 344, 351, 355 và Điều 471, 474 Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Căn cứ Nghị định 163/2006/NĐ - CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo và Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S2 (S3) đối với bà Nguyễn Thị Kim L về yêu cầu thanh toán khoản tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 49/2013/HĐTDTDH-CN/SHB.HT ngày 11/11/2013 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN-CN ngày 15/11/2013.

- Buộc bà Nguyễn Thị Kim L phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S2 (S3) khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 49/2013/HĐTDTDH-CN/SHB.HT ngày 11/11/2013 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN-CN ngày 15/11/2013 tạm tính đến ngày 6/9/2024 là 2.818.441.620 đồng gồm: Nợ gốc: 989.999.452 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.749.338.526 đồng, nợ lãi quá hạn: 79.103.642 đồng.

- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Ngân hàng TMCP S2 (S3) buộc bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu tiền phạt chậm trả gốc và phạt chậm trả lãi theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ.

2. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Kim L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 49/2013/HĐTDTDH-CN/SHB.HT ngày 11/11/2013 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN-CN ngày 15/11/2013. Trường hợp nếu trong các hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP S2 (S3) thì lãi suất mà bà L phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP S2 (S3) theo từng thời kỳ nhưng không trái quy định pháp luật.

3. Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Nguyễn Thị Kim L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nợ của Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 49/2013/HĐTDTDH-CN/SHB.HT ngày 11/11/2013 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN-CN ngày 15/11/2013 thì Ngân hàng TMCP S2 (S3) có toàn quyền yêu cầu Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số; -/-; tờ bản đồ số; - ; diện tích: 29.0 m2 tại địa chỉ: Số nhà F nay là số C ngõ C, phổ Minh Khai, phương M, quận H, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 756540, số vào sổ cấp GCN: CH 00664/191.2012 do UBND quận H cấp ngày 24/04/2012 thuộc sở hữu, sử dụng của ông Vũ Xuân S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1. Tài sản bảo đảm được ký kết theo Hợp đồng thế chấp số công chứng: 992 2013/HĐTC; quyển số:02 TP/CC - SCC/HĐGD ký ngày 11/11/2013 tại Văn phòng C2, Hà Nội giữa Ngân hàng TMCP S2 với ông Vũ Xuân S và bà Nguyễn Thị Ngọc L1, đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất và nhà quận H (nay là Văn phòng Đ – chi nhánh quận H) ngày 12/11/2013 và theo quy định pháp luật. (có sơ đồ kèm theo)

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 88.368.832 đồng. Hoàn trả Ngân hàng TMCP S2 (S3) số tiền 56.250.000 đồng tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006322 ngày 06/3/2024.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi Nơi nhận:

  • - TANDTp Hà Nội;
  • - VKSND q. Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS q.Hoàn Kiếm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Đặng Văn Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/DSST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 82/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S- Nguyễn Thị Kim L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger